Thế và lực của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới
TCCS - Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được định hình ngày càng sáng rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn. Từ quốc gia nghèo nàn, lạc hậu đến một đất nước được đánh giá là điểm sáng của thế giới về phát triển kinh tế, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng khẳng định, tích lũy nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Khẳng định thành tựu phát triển qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ... ”(1). “...Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD”(2). Chỉ số hạnh phúc năm 2025 của Việt Nam tăng 8 bậc so với năm 2024, xếp thứ 46/143 quốc gia.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau, phát triển ngày càng vững chắc, trở thành trụ đỡ vững vàng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc, trên nền tảng là nhân dân: “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”, dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ngày càng được hiện thực hóa.
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi tiếp tục phải đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(3). “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi công dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, có ý thức thượng tôn pháp luật thì sẽ tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”(4).
Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố, qua đó khẳng định nhất quán nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong tiến trình hội nhập quốc tế suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn kiên định giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.
Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược: phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt; phát triển văn hóa và con người Việt Nam là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhờ đó, Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; an toàn thông tin được tăng cường; môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước được bảo đảm.
Tiềm lực quốc phòng - an ninh tiếp tục được đầu tư, củng cố, nâng cao; khả năng xử lý tình huống chiến lược được thực hiện chủ động, linh hoạt, hiệu quả, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội; sức mạnh quốc phòng, an ninh đều được tăng cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển; đồng thời, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mối quan hệ về quốc phòng, quân sự, an ninh được xây dựng, phát triển ở mức độ thích hợp trên cơ sở bảo đảm lợi ích cốt lõi của Việt Nam, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, vì lợi ích chung của khu vực và quốc tế.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực cạnh tranh quốc gia. Công tác phát triển văn hóa, xã hội và con người đạt nhiều tiến bộ, từng bước định hình hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện rõ rệt. Năm 2024, tỷ lệ người lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 28,1%, tăng 1,3% so với năm 2023.
Tiềm lực khoa học - công nghệ tiếp tục được củng cố, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hình thành và phát triển. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 56/119 về hệ sinh thái khởi nghiệp, tăng 2 bậc so với năm 2023; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tăng 4 bậc so với năm 2022, đứng thứ 44/132, cho thấy năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang nâng lên một bước quan trọng.
Định hướng xã hội chủ nghĩa trong chính sách xã hội ngày càng được nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn, thể hiện rõ ở việc gắn kết hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Lĩnh vực an sinh và phúc lợi xã hội tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách đối với người có công và người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống khám, chữa bệnh ngày càng tiếp cận rộng rãi hơn với kỹ thuật y khoa tiên tiến của thế giới; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 94,1% năm 2024.
Công tác quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường; kiểm soát ô nhiễm môi trường có chuyển biến rõ nét; đồng thời, việc huy động nguồn lực để ứng phó với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam năm 2024 xếp thứ 54/166, tăng một bậc so với năm 2023, phản ánh nỗ lực và tiến bộ đáng ghi nhận trong phát triển bền vững.
Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đường lối đối ngoại rộng mở và hội nhập quốc tế sâu rộng đã đưa Việt Nam trở thành “bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế; đồng thời, khẳng định và nâng cao rõ rệt vị thế, uy tín quốc gia trên trường thế giới. Từ một đất nước từng bị bao vây, cô lập, hiện nay Việt Nam là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác và liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), đã kết nối Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, thúc đẩy tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Nhờ đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thuộc nhóm 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất từ năm 2019 đến nay; đồng thời, là một trong 10 nước có lượng kiều hối lớn nhất thế giới(5).
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự lựa chọn mang tính bước ngoặt, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại với ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn yêu cầu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó mục tiêu phát triển được đặt ở vị trí trung tâm; vai trò của hội nhập quốc tế đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đề cao; nhiệm vụ nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trong cộng đồng quốc tế được nhấn mạnh như một động lực quan trọng của tiến trình phát triển đất nước.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn quán triệt chủ trương của Đảng về bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Trên cơ sở đó, phương châm và định hướng lớn được quán triệt nhất quán: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn; đồng thời, duy trì, củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống. Quá trình phát triển đường lối cho thấy định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn, chuyển mạnh từ tâm thế “quốc gia đi sau” sang vị thế “quốc gia chủ động, tích cực, tiên phong” trong nhiều lĩnh vực hợp tác mới.
Trong triển khai hội nhập quốc tế, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và mở rộng quan hệ hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; đồng thời, khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường nội lực để hội nhập quốc tế đạt hiệu quả, bền vững. Đảng chỉ rõ việc tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nâng cao khả năng thích ứng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị. Hội nhập quốc tế phải được tiến hành trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài; trong đó, hội nhập kinh tế là trọng tâm, các lĩnh vực khác được mở rộng theo lộ trình phù hợp. Việt Nam kiên trì thực hiện nghiêm cam kết quốc tế, đồng thời chủ động, tích cực tham gia xây dựng và định hình chuẩn mực chung nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Với các quan hệ đối tác đã được xác lập, Đảng chủ trương đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu và làm sâu sắc hơn, ngày càng gia tăng mức độ đan xen lợi ích, tăng cường lòng tin, mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác, nâng cấp quan hệ với các đối tác phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công, trong vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu phản động của các thế lực thù địch, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước.
Tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, “hội tụ” thế và lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới
Thực tiễn hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy, thế và lực của Việt Nam đạt được thành tựu to lớn, bên cạnh đó cũng còn hạn chế cần khắc phục.
Về thành tựu, hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc duy trì và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quá trình hội nhập quốc tế đã phá vỡ thế bị bao vây, cấm vận trước đây, đồng thời mở rộng không gian đối ngoại, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước và đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện tiếp tục được thiết lập, củng cố và mở rộng, bao quát các đối tác có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nhập quốc tế gắn với quốc phòng, an ninh đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; đồng thời, giúp Việt Nam tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các cơ chế hòa bình, hợp tác khu vực và toàn cầu, qua đó không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng quan hệ đối tác toàn diện trở lên với 42 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới thuộc nhóm G20(6). Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền và 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền hoặc tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ hợp tác với hơn 140 quốc hội và nghị viện trên thế giới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân với khoảng 1.200 tổ chức trên thế giới và đối tác nước ngoài. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại chuyên ngành tiếp tục được mở rộng, trở thành bộ phận quan trọng góp phần tạo nên những thành tựu toàn diện của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng sông Mê Công, APEC, Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), các hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao “Vành đai, con đường”... Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc, như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong hai nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và nhiệm kỳ 2026 - 2028, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027... Về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Óoc (Mỹ); cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Mi-an-ma.
Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời tạo chuyển biến tích cực trong xử lý vấn đề biên giới, lãnh thổ với các nước liên quan. Cùng với việc đàm phán và ký kết điều ước, thỏa thuận quốc tế, Việt Nam từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, xây dựng khuôn khổ hợp tác và quản lý biên giới hiệu quả, qua đó củng cố môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và mở rộng không gian hợp tác đối ngoại.
Đối với Trung Quốc, Việt Nam đã ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền và hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên bộ; ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ; ký kết Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Hai bên tiếp tục thiết lập các hiệp định về quy chế quản lý biên giới và quản lý cửa khẩu trên đất liền, tạo khung pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền, phát triển đường biên giới hòa bình, hữu nghị.
Trong khuôn khổ các nước ASEAN, Việt Nam đã có những nỗ lực trong việc mở rộng và tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Với Lào, hai nước đã hoàn thành dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên toàn tuyến biên giới, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và củng cố đường biên giới hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào. Đối với Cam-pu-chia, hai bên đã hoàn thành phân giới, cắm mốc khoảng 84% chiều dài biên giới trên đất liền. Gắn với việc phân định, hợp tác và xử lý vùng chồng lấn trên biển, Việt Nam đã từng bước cùng các quốc gia liên quan giải quyết trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.
Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 quốc gia trên tất cả châu lục; chủ động, tích cực tham gia hơn 500 điều ước quốc tế song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, qua đó thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn và đa dạng. Công tác đối ngoại góp phần quan trọng làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tăng cường gắn kết và hợp tác kinh tế với nhiều đối tác chủ chốt, tạo nền tảng củng cố kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, thu hút hiệu quả nguồn lực bên ngoài, bao gồm FDI, viện trợ không hoàn lại (ODA), thành tựu khoa học - công nghệ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong đại dịch COVID-19, việc triển khai chủ động, quyết liệt đường lối đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao vắc-xin, giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ quý báu, kịp thời của cộng đồng quốc tế để ứng phó, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, được bạn bè và đối tác quốc tế đánh giá cao.
Triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt từ sau khi Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” và Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”, Đảng và Nhà nước nhất quán khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều kết quả quan trọng. Đến cuối năm 2024, đồng bào ta ở nước ngoài đã đầu tư 422 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 1.725 tỷ USD; số lượng kiều hối chuyển về qua hệ thống ngân hàng đạt gần 250 tỷ USD, góp phần hỗ trợ gia đình, người thân và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng củng cố, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương, đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại.
Công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa được đổi mới mạnh mẽ, triển khai ngày càng bài bản, hiệu quả, góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Thông qua nhiều hình thức phong phú, thế giới hiểu rõ hơn về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đã đạt được; về truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc; về nền văn hóa phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc; về phẩm chất anh hùng, thủy chung, nghĩa tình và yêu chuộng hòa bình của con người Việt Nam; cũng như về một đất nước Việt Nam an toàn, thân thiện, ổn định, hội nhập và phát triển. Nhiều hoạt động truyền thông được tổ chức nhằm lan tỏa giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh nhân văn hóa Việt Nam được UNESCO vinh danh; đồng thời, tích cực vận động UNESCO công nhận di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của Việt Nam. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, kịp thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, việc xây dựng và triển khai đường lối, chính sách đối ngoại đã góp phần hình thành nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, với ba trụ cột ngày càng được củng cố và phát triển: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, phương tiện và công cụ phục vụ công tác đối ngoại cũng không ngừng đổi mới, ngày càng đa dạng và hiệu quả hơn. Nhờ đó, hoạt động đối ngoại đã theo kịp xu thế thời đại, mở rộng về chủ thể tham gia, làm sâu sắc mạng lưới đối tác, đồng thời đổi mới mạnh mẽ về phương thức và công cụ triển khai.
Về hạn chế, thế và lực mới của đất nước tuy đã được củng cố vững chắc, nhưng chưa thực sự phát huy tối đa để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế. Quan hệ với một số đối tác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và khuôn khổ hợp tác, nhất là trong lĩnh vực kinh tế khi vẫn thiếu vắng dự án mang tính chiến lược. Việc theo dõi, triển khai, đôn đốc thực hiện thỏa thuận, cam kết, khuôn khổ hợp tác quốc tế vẫn còn hạn chế, còn xuất hiện “điểm nghẽn” trong quan hệ với một số đối tác quan trọng.
Cải cách thể chế trong một số lĩnh vực vẫn chưa theo kịp yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để vừa hội nhập quốc tế sâu rộng, vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiệu quả phối hợp giữa bộ, ngành và địa phương vẫn chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ, còn thiếu sự gắn kết. Công tác nghiên cứu chiến lược và dự báo biến chuyển của tình hình quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tham mưu trong bối cảnh mới.
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập Nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc.
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ đạt được những kỳ tích (kỳ tích về một nước dân chủ thuộc địa nửa phong kiến có thể chiến thắng hai đế quốc thực dân hùng mạnh; kỳ tích về một nước từ bị bao vây cấm vận thực hiện thành công công cuộc đổi mới với những thành tựu vĩ đại). Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Từ những vấn đề trên, có thể thấy, đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa các lợi thế, sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới”(7)./.
-------------
* Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài cấp quốc gia, Mã số KX.06.03/21-30
(1) Xem: Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 1-11-2024
(2) Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 1059, tháng 4-2025, tr. 10
(3) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1049, tháng 11-2024, tr. 4
(4) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tlđd
(5) Xem: Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tlđd
(6) G-20 thường được biết đến với tên gọi: Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới, bao gồm 19 quốc gia và Liên minh châu Âu. Gần đây, Liên minh châu Phi (AU) đã trở thành thành viên mới nhất của G-20
(7) Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tlđd
Độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế qua 40 năm đổi mới: Giải pháp thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII  (17/12/2025)
Độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế qua 40 năm đổi mới: Giải pháp thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII  (17/12/2025)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
- Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm