Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh: Từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay
TCCS - “Giàu mạnh” là một mục tiêu trong hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Xây dựng đất nước giàu mạnh cũng là tư tưởng phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn được Đảng và Nhà nước ta kế thừa và phát triển sáng tạo ở tầm cao mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong giai đoạn phát triển mới của dân tộc.
Lý luận về thực hiện mục tiêu “giàu mạnh” của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Xây dựng một nước Việt Nam “giàu mạnh” trước hết, đó là xây dựng một nước Việt Nam có “dân giàu” và “nước mạnh”. Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gô-ta..., C. Mác từng khẳng định đại ý, dưới xã hội cộng sản giai đoạn đầu, tức chủ nghĩa xã hội, vẫn không tránh khỏi người này giàu hơn người kia đó sao? Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh: “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”(1).
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, mục tiêu “dân giàu” có ý nghĩa đặc biệt. Làm cho nhân dân ngày càng giàu là một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cũng là thách thức to lớn. Không những “phải cải biến tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển” thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn phải vươn tới địa vị một nước phát triển, tiến tới hội đủ hai yếu tố bảo đảm dân giàu: một là, xã hội công bằng với những cơ chế cho phép mỗi cá nhân, mỗi cơ sở kinh tế được làm giàu một cách hợp pháp; hai là, có lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên trình độ khoa học - công nghệ hiện đại, năng suất lao động xã hội cao, có tiềm lực về tài nguyên “chất xám”, có một nền kinh tế tri thức phát triển cao. Dân giàu đi đôi với công bằng xã hội là ước mơ ngàn đời của nhân dân ta, chỉ có thể được thực hiện dưới chủ nghĩa xã hội.
“Nước mạnh” chỉ trở thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khi “nước” là nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ; khi nước mạnh là điều kiện để nhân dân được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, “nước mạnh” là một mục tiêu lớn, vô cùng quan trọng. “Nước mạnh” thể hiện ở ba sự bảo đảm sau đây:
Một là, bảo đảm khả năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với các nội dung “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(2).
Hai là, bảo đảm khả năng tranh thủ tối đa những cơ hội phát triển thông qua mở rộng hợp tác quốc tế, khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích quốc gia - dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa.
Ba là, bảo đảm nâng cao địa vị quốc tế của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, “nước mạnh” là điều kiện thuận lợi để phát huy chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; Việt Nam giàu mạnh là nhân tố tích cực của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. “Nước mạnh” theo tinh thần của chủ nghĩa quốc tế là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, “giàu mạnh” có nghĩa bao hàm rộng hơn “dân giàu” “nước mạnh”, không chỉ dân giàu, mà nước mạnh về mọi mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, con người, quốc phòng - an ninh, đối ngoại), đồng thời phải bảo đảm tính bền vững của sự phát triển.
“Giàu mạnh” là giá trị và mục tiêu của phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này phù hợp với nguyện vọng và mong muốn của mọi tầng lớp nhân dân. Đây là mục tiêu tốt đẹp, tập hợp trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, động viên nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy tính tích cực và tự giác của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trước hết, đó là một xã hội “dân giàu, nước mạnh”: Một mặt, là thể hiện sự tăng lên, đầy đủ, sung túc về vật chất, tiến bộ kinh tế, giảm đói nghèo trên phạm vi cả nước và mỗi cá nhân; mặt khác, biểu thị trạng thái hạnh phúc. Đây không đơn thuần là sự giàu có về vật chất, mà còn đi liền với khả năng phát triển thể chất, tâm lý và xã hội; tham dự vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân. Khía cạnh xã hội và tâm lý của khái niệm “dân giàu, nước mạnh” quan trọng không kém so với khía cạnh vật chất. Bởi, bên cạnh những nhu cầu vật chất, con người cần có nhu cầu tinh thần, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, cộng đồng và mục đích sống, góp ích cho xã hội và qua đó, góp phần xây dựng một xã hội đáng sống. Do đó, “dân giàu, nước mạnh” có nghĩa là đem lại đời sống vật chất dồi dào, đời sống tinh thần phong phú thực sự cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Dân có giàu thì nước mới mạnh và ngược lại.
“Giàu mạnh” - tức là đời sống nhân dân giàu có, xã hội phát triển tốt đẹp, thực lực tổng hợp quốc gia lớn mạnh. Giá trị “giàu mạnh” yêu cầu lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, ngày càng nâng cao mức sống của nhân dân trở thành mục tiêu quan trọng trong xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội hàm của “giàu mạnh” bao gồm những đặc trưng cụ thể sau:
- Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội cần có lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện để nhân dân có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao. Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn, tạo tiền đề quan trọng vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Hướng tới sự giàu có của toàn thể nhân dân. Đây chính là điểm đặc sắc và là bản chất của chủ nghĩa xã hội.
- Phát triển liên tục, hài hòa và lành mạnh. Cần khai thác các tiềm năng, thế mạnh, lợi thế quốc gia, khắc phục những điểm yếu, hạn chế để sự phát triển liên tục, hài hòa, tránh phát triển thiếu bền vững, đứt đoạn, nhất là trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực chưa bền vững; còn có khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi; chưa giải quyết được hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội…
- Sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn mạnh. “Giàu mạnh” thể hiện sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng lớn mạnh. Các nước trên thế giới lấy thực lực kinh tế làm cơ sở cạnh tranh sức mạnh tổng hợp, đồng thời gia tăng sức mạnh chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục; tăng cường cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, để đất nước hướng tới giàu mạnh toàn diện. Chúng ta cần đề ra chiến lược phát triển ưu tiên khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế phát triển theo chiều sâu, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới thể chế văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đẩy mạnh quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài; đề cao các giá trị đạo đức tốt đẹp; làm phong phú và phát triển chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế đất nước và sức ảnh hưởng quốc tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của việc xây dựng một quốc gia “giàu mạnh”
Xây dựng đất nước giàu mạnh là tư tưởng phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc và sự giàu có của nhân dân. Theo Người, “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập”(3). Người còn nói, độc lập mà dân không đủ ăn, đủ mặc thì độc lập ấy không có nghĩa gì. Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946, Người nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(4). Suốt cuộc đời Người phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc, ấm no của nhân dân: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(5).
Trong diễn văn khai mạc Đại hội III của Đảng (từ ngày 5-9-1960 đến 10-9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “làm cho miền Bắc nước ta có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa khoa học tiên tiến, làm cho nhân dân ta có một đời sống ngày thêm no ấm, vui tươi”… Người cũng chỉ rõ: “miền Bắc giàu mạnh sẽ là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”. Trong mọi lúc mọi nơi, tư tưởng này được gắn bó biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa chiến lược và sách lược cụ thể.
Khi lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, trong các phát biểu, lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện sớm và sâu sắc các tư tưởng về đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa hữu nghị và hợp tác với các nước dân chủ… Các đường lối, chính sách ấy đã tạo điều kiện tốt nhất, hiệu quả nhất để khai thác ngoại lực nhằm xây dựng đất nước. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là làm cho “dân giàu, nước mạnh”.
Ngày nay, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chăm lo đời sống nhân dân và xây dựng đất nước giàu mạnh được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và nâng lên tầm cao mới cho phù hợp tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế là đúng đắn, sáng tạo. Theo đó, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới”(6), từng bước đạt tới mục tiêu “giàu mạnh”, điều này có những ý nghĩa quan trọng sau:
Một là, khẳng định mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế. Đảng ta không có mục đích nào khác là phục vụ sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột, lầm than, đói khổ, bất công; phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Không chỉ giải phóng con người, giải phóng dân tộc, mà còn phải thực hiện mục tiêu giàu mạnh. Chỉ trên cơ sở thực hiện được mục tiêu giàu mạnh thì con người và dân tộc mới được giải phóng thực sự, triệt để trên thực tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(7). Chính vì vậy, Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(8). Đồng thời, giành được độc lập, tự do rồi thì phải xây dựng một xã hội công bằng, hợp lý: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”(9). Nghĩa là thực hiện phương châm “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(10). Thực hiện được những nguyên tắc này là góp phần thực hiện được mục tiêu giàu mạnh. Nghĩa là khẳng định được mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế.
Hai là, khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(11). Do vậy, khi hiện thực hóa được mục tiêu giàu mạnh trên thực tế sẽ chứng tỏ Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Khác với các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và các tư tưởng tôn giáo cũng mong cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một đất nước “giàu mạnh”, Đảng Cộng sản Việt Nam bằng chủ trương, đường lối lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo toàn thể dân tộc bằng các chương trình, chiến lược, kế hoạch, giải pháp để hiện thực hóa hệ mục tiêu “giàu mạnh” trên thực tế. Hiện thực hóa được hệ mục tiêu này là vì Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Nghĩa là, Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực tiễn khu vực, quốc tế và có cơ sở khoa học, phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của thực tiễn đất nước, khu vực và thời đại, phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn của quần chúng nhân dân. Cũng chính vì vậy, bản thân mục tiêu này cũng như các giải pháp, con đường, cách thức hiện thực hóa mục tiêu này luôn có sự thống nhất, gắn bó mật thiết giữa cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học. Mặc dù có những lúc, chúng ta có sai lầm, khuyết điểm, nhưng với tinh thần thẳng thắn, khách quan, trung thực, Đảng ta đã sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, giữ vững bản lĩnh cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, có sự lãnh đạo thực hiện mục tiêu “giàu mạnh”, là minh chứng sống động, thuyết phục khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng.
Ba là, khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước. Việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” thêm khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi, của mọi sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhận thức rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Nhiều nhiệm kỳ đại hội của Đảng đều rút ra bài học “trong mọi công việc của Đảng phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(12). Do vậy, Đảng ta đã phát huy, lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”(13). Nhân dân nhận thấy mục tiêu “giàu mạnh” phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, đúng đắn, hợp lý của nhân dân. Do vậy, nhân dân tích cực tham gia hiện thực hóa mục tiêu này. Qua đó, khẳng định nhân dân là cội nguồn sức mạnh của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước.
Bốn là, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Mục tiêu “giàu mạnh” đã thể hiện được những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta hướng tới. Mục tiêu này thể hiện một xã hội “thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”(14); “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”(15); “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”(16);... Rõ ràng, hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh” cho thấy chủ nghĩa xã hội là xã hội ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó. Chủ nghĩa tư bản cũng đề ra các giá trị mà nó hướng tới và “chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”(17). Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Bởi lẽ: “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”(18). Do vậy, việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các xã hội khác, nhất là chủ nghĩa tư bản trên thực tế.
Năm là, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Hiện thực hoá được mục tiêu “giàu mạnh” là chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm xã hội công bằng, dân chủ cho nhân dân trên thực tế. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Niềm tin là sự tin tưởng, hy vọng vào điều có căn cứ, cơ sở khoa học, thực tiễn. Nhân dân chỉ tin tưởng vào Đảng khi Đảng mang lại cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng cho nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”(19).
Hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” chính là xuất phát từ nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chân chính, đúng đắn, hợp lý của nhân dân và thực hiện mục tiêu phục vụ nhân dân. Nhân dân ta một lòng, một dạ đi theo Đảng, bảo vệ Đảng khi có khó khăn, chia sẻ với Đảng khi cần bởi lẽ Đảng luôn chăm lo cho nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Niềm tin của nhân dân chỉ có thể được củng cố trên cơ sở nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng trước hết và trên hết phụ thuộc vào chính hiệu quả hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Vì hiện thực hóa hệ mục tiêu này là trực tiếp hiện thực hóa những nhu cầu, lợi ích, mong muốn chính đáng, hợp lý, thiết thực của nhân dân. Rõ ràng yếu tố trực tiếp, hiện thực là Đảng làm gì cho nhân dân trên thực tế, thể hiện rõ hơn cả khi hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh”.
Sáu là, nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và đất nước trên trường quốc tế. Hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh”, về thực chất, là làm cho đời sống của nhân dân được giàu lên về vật chất, về tinh thần, văn hóa, có sức khỏe thể chất đáp ứng yêu cầu thực tiễn, có cuộc sống công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân đói khổ, đến nay, thu nhập bình quân của nhân dân ta đã tăng lên khoảng 5.000 USD/người/năm. Sau gần 40 năm đổi mới, thực hiện hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, gồm: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(20).
Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 74,5 tuổi năm 2024. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Năm 2023, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao với chỉ số 0,766 - đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Có thể nói: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(21).
Bảy là, góp phần thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(22). Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chưa kết thúc. Do vậy, Bác đã nhấn mạnh tới thành tố hòa bình, thống nhất, độc lập, đồng thời mong muốn đất nước ta phải dân chủ, giàu mạnh. Đất nước có dân chủ, giàu mạnh thì chúng ta mới góp phần xứng đáng được vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Do đó, việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” là góp phần trực tiếp vào thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Việt Nam cũng đóng góp ngày càng trách nhiệm và hiệu quả trong các vấn đề toàn cầu, hoạt động quốc tế, như cử được 5 bệnh viện dã chiến cấp 2 và 2 đội công binh làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan và Abyei; cử 2 đoàn công tác, gồm lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria vào tháng 2-2023... Đây là biểu hiện rõ nét của việc thực hiện cam kết chính trị của Việt Nam với vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng chung tay giải quyết các khó khăn, thách thức và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, vì sự hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Điều đó góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới của Đảng và nhân dân ta theo Di chúc của Bác Hồ vĩ đại./.
--------------------------------
(1) C. Mác - Ăng-ghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, t. 1, tr. 562
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 108
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tr. 175
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tr. 187
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 438
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 404
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 390
(11) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 35 - 36
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 96 - 97
(13) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 36 - 37
(14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 21
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 70
(16) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 21
(17) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 18 - 19
(18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 20
(19) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 5
(20) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 33
(21) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 34
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 624
Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới  (22/02/2026)
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới  (20/02/2026)
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới  (20/02/2026)
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại tỉnh Cao Bằng  (28/01/2026)
- Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh: Từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay
- Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
- Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
- Truyền thông chiến lược - Định vị QUAD trong cục diện khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng mở
- Một số giải pháp nâng cao quyền tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm