Tiếp tục hoàn thiện thể chế văn hóa, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN
Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội

14:56, ngày 27-02-2026

TCCS - Trong bối cảnh mới, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế văn hóa là nhiệm vụ chiến lược, mang ý nghĩa quyết định để phát huy vai trò nguồn lực và động lực của văn hóa, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với các cháu thiếu nhi tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Đền Đô, tỉnh Bắc Ninh _Ảnh: TTXVN

Khái quát thực trạng thể chế văn hóa ở Việt Nam hiện nay

Một số kết quả đạt được

Hai thập niên gần đây, hệ thống thể chế văn hóa của Việt Nam đã có những bước phát triển, một số luật chuyên ngành, chiến lược và quy hoạch cấp quốc gia cùng hệ thống chương trình mục tiêu, đề án trọng điểm được ban hành, tạo cơ sở nhằm thúc đẩy văn hóa phát triển gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nhiều văn kiện định hướng chiến lược của Đảng tác động mạnh mẽ đến tư duy thể chế văn hóa, tiêu biểu như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa trong xây dựng và phát triển đất nước, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế văn hóa, đẩy mạnh xã hội hóa và chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong từng gia đình đến toàn xã hội.

Về khung luật pháp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có tính nền tảng từng bước hoàn thiện, như Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Thư viện... Ngoài ra, nhiều chiến lược và quy hoạch cấp quốc gia của Chính phủ đã hoạch định dài hạn cho sự phát triển văn hóa, như Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030; Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035...

Thể chế văn hóa Việt Nam được nâng cao về chất lượng và hiệu lực, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức, cách tiếp cận và phương thức tổ chức hoạt động văn hóa của Trung ương và địa phương cụ thể như sau:

Một là, văn hóa được nâng lên tầm chiến lược phát triển quốc gia.

Một trong những bước tiến quan trọng nhất về thể chế là việc đặt văn hóa ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc... Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện... để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(1).

Hai là, một số mô hình trong bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, văn hóa số đạt những thành tựu quan trọng bước đầu.

Trên cơ sở thể chế ngày càng được hoàn thiện, nhiều địa phương, ngành, nghề đã triển khai thành công mô hình bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế, tiêu biểu như Quần thể danh thắng Tràng An (mô hình kiểu mẫu về bảo tồn di sản kết hợp phát triển du lịch xanh của Ninh Bình; quy định quản lý khu di sản đã được cụ thể hóa bằng Quy chế phối hợp liên ngành); phát triển công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với nhiều chính sách hỗ trợ cho không gian sáng tạo, nghệ thuật đương đại, khởi nghiệp sáng tạo; ứng dụng văn hóa số và số hóa di sản, thử nghiệm ứng dụng tham quan ảo tại các di tích, như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Cố đô Huế... Đây là nỗ lực trong chuyển đổi số ngành văn hóa, mở đường cho việc hình thành thể chế văn hóa số quốc gia trong tương lai.

Ba là, gia tăng đầu tư công và xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa.

Một chuyển biến đáng chú ý khác trong thể chế văn hóa là sự tăng cường nguồn lực đầu tư công, đặc biệt thông qua chương trình mục tiêu quốc gia, dự án đầu tư công trung hạn và vốn ODA. Giai đoạn 2021 - 2025, hàng chục nghìn tỷ đồng đã được đầu tư cho chương trình xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở, hỗ trợ nghệ thuật truyền thống, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và nâng cấp hạ tầng văn hóa tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bên cạnh đó, xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa có bước phát triển cả về quy mô và hình thức. Doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân đầu tư nhiều vào ngành xuất bản, điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật, tổ chức lễ hội và sản xuất nội dung số. Nhiều doanh nghiệp lớn tham gia xây dựng chuỗi giá trị văn hóa - du lịch - công nghệ, góp phần làm sống động thị trường văn hóa và thúc đẩy cạnh tranh sáng tạo. Đặc biệt, mô hình hợp tác công - tư trong văn hóa đang dần hình thành, gắn với tạo không gian sáng tạo, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống...

Kết quả trên cho thấy thể chế văn hóa đang từng bước khẳng định vai trò tạo dựng môi trường sáng tạo, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, khơi dậy “sức mạnh mềm” dân tộc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.

Hạn chế, bất cập

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, hệ thống thể chế về văn hóa vẫn còn bất cập cả về tư duy chính sách, kết cấu pháp lý, năng lực tổ chức và khả năng điều phối liên ngành, làm suy giảm hiệu quả xây dựng và phát triển văn hóa, khó khăn trong hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của đất nước.          

Một là, hệ thống pháp luật, chính sách thiếu tầm nhìn dài hạn.

Về tổng thể, hệ thống thể chế văn hóa vẫn phân tán, thiếu gắn kết nội tại và chưa đủ sức điều phối liên ngành. Mặc dù có các điều khoản liên quan đến lĩnh vực văn hóa trong một số luật đã được ban hành, nhưng các luật này chưa có nhiều điều khoản gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa hay chuyển đổi số. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa chỉ dừng ở mức định hướng, chưa luật hóa thành công cụ điều hành cụ thể về tài chính, tín dụng, ưu đãi đầu tư, thuế hay bảo hộ quyền tác giả.

Hai là, thể chế điều phối liên ngành và liên cấp chưa hiệu quả.

Thực tiễn phát triển văn hóa đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học, công nghệ, truyền thông, du lịch, ngoại giao... Tuy nhiên, vẫn chưa có cơ chế điều phối thể chế văn hóa mang tính liên ngành hiệu quả. Các bộ, ngành liên quan thường hoạt động theo chức năng riêng biệt, thiếu nền tảng chia sẻ dữ liệu, phân công nhiệm vụ, giám sát liên thông. Trong ngành văn hóa, một số lĩnh vực như mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn học, nghệ thuật dân gian... vẫn chưa có khung pháp lý chuyên biệt và cơ chế tài chính ổn định, dẫn đến tình trạng “vừa bị quản lý chặt, vừa bị bỏ ngỏ”. 

Ba là, năng lực tổ chức, quản trị và nhân lực ngành văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu. Một bộ phận đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa thiếu kỹ năng quản lý hiện đại, chưa được đào tạo bài bản về quản trị công nghiệp văn hóa, văn hóa số và hợp tác quốc tế. Nhiều cán bộ văn hóa cấp xã chưa qua đào tạo chuyên ngành văn hóa; nhiều đơn vị sự nghiệp văn hóa hoạt động cầm chừng, thiếu định hướng dài hạn, phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Cơ chế tài chính và tiền lương trong lĩnh vực văn hóa chưa tạo động lực để thu hút nhân tài. Chính sách đãi ngộ, thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà sáng tạo chưa hiệu quả, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực chất lượng cao với khu vực tư nhân và quốc tế.

Bốn là, xã hội hóa thiếu định hướng, dễ bị thương mại hóa và lệch chuẩn giá trị.  

Thực tiễn cho thấy tiêu chuẩn, tiêu chí, quy định về kiểm soát chất lượng trong lĩnh vực văn hóa chưa đầy đủ, nhiều hoạt động văn hóa bị thương mại hóa, lệch chuẩn giá trị, nhiều lễ hội bị biến tướng, biểu diễn phản cảm, chương trình giải trí đại trà lấn át chương trình nghệ thuật đích thực. Cơ chế thẩm định, kiểm duyệt nội dung còn lúng túng giữa kiểm soát và tự do sáng tạo. Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực văn hóa dường như chưa thẩm thấu vào đời sống của một bộ phận người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.   

Năm là, thiếu thể chế văn hóa số và công cụ quản trị không gian mạng.

 Trong bối cảnh chuyển đổi số và bùng nổ thông tin trên không gian mạng, việc thiếu khung thể chế văn hóa số quốc gia là khoảng trống đáng lo ngại. Hiện nay, văn bản chuyên biệt về quản lý dữ liệu di sản, bảo hộ nội dung sáng tạo số, quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số hay kiểm soát văn hóa số xuyên biên giới chưa được ban hành. Các nền tảng xuyên biên giới, như YouTube, TikTok, Spotify... đang trở thành nơi truyền bá thông tin quan trọng, nhưng cơ chế quản lý vẫn chủ yếu dựa vào công cụ hành chính thay vì một thể chế chủ động, linh hoạt và hỗ trợ sáng tạo.

Những hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng đổi mới thể chế văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại, hội nhập, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đây không chỉ là bài toán kỹ thuật về mặt pháp lý, mà còn là vấn đề về tư duy chính trị, triết lý phát triển và quyết tâm cải cách thể chế ở tầm quốc gia.

Chương trình nghệ thuật khai mạc Festival Ninh Bình lần thứ III với chủ đề “Dòng chảy di sản” _Nguồn: toquoc.vn

Hoàn thiện thể chế văn hóa để phát triển đất nước   

Thể chế văn hóa có vai trò chiến lược trong phát triển đất nước. Thể chế văn hóa là cơ sở để chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển, tạo hành lang pháp lý để bảo vệ, khuyến khích và phát triển sáng tạo văn hóa; trong đó, thể chế tài chính - đầu tư là đòn bẩy để “chuyển hóa giá trị thành nguồn lực”, thể chế liên ngành giúp kết nối văn hóa với lĩnh vực kinh tế - công nghệ - giáo dục, đồng thời là nền tảng để định vị bản sắc và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh chung, thời gian tới, để đẩy mạnh hoàn thiện thể chế văn hóa cần cân nhắc các vấn đề sau: 

Về tư duy thể chế: Đổi mới tư duy về thể chế văn hóa là khâu đột phá đầu tiên và có tính quyết định trong quá trình hoàn thiện hệ thống quản trị văn hóa. Bởi thể chế không đơn thuần là tập hợp văn bản pháp lý hay bộ máy hành chính, mà trước hết là một hệ thống tư tưởng, triết lý phát triển và cách tiếp cận vấn đề có tính chất nền tảng, định hướng quản trị quốc gia trong lĩnh vực văn hóa.

Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy “kiến tạo phát triển” và phục vụ.

Tư duy thể chế mới phải lấy nhân dân làm trung tâm, lấy quyền tiếp cận và sáng tạo văn hóa làm điểm xuất phát, lấy hiệu quả xã hội, văn hóa, con người làm thước đo, thay vì chỉ chú trọng vào chỉ tiêu hành chính. Khắc phục những hạn chế của mô hình cũ, như sự thiếu linh hoạt, chậm thích ứng với sáng tạo, “quản lý hành chính” với cơ chế kiểm soát, xin - cho, cấp phép, xử lý vi phạm... Tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi để thực thể tham gia sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, hưởng thụ và tiếp cận giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng cơ sở văn hóa trong khuôn khổ pháp luật; khuyến khích, dẫn dắt, đồng hành thay vì áp đặt mệnh lệnh hành chính, can thiệp sâu; xây dựng cơ chế tham vấn đa chiều, có sự tham gia của nghệ sĩ, nhà sáng tạo, tổ chức xã hội, doanh nghiệp văn hóa trong quá trình hoạch định chính sách.

Xác lập vai trò thể chế văn hóa là một trụ cột phát triển ngang bằng với thể chế kinh tế và thể chế chính trị.

Để khắc phục tình trạng coi văn hóa chỉ mang tính phụ trợ, chưa phải là yếu tố cốt lõi trong cấu trúc phát triển quốc gia, văn hóa phải được xác lập là nền tảng và động lực phát triển bền vững; lồng ghép trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường...; định lượng hóa đóng góp của văn hóa vào tăng trưởng, thông qua các chỉ số, như tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP, tỷ lệ người dân tham gia hoạt động sáng tạo, chỉ số tiếp cận thiết chế văn hóa...

Tư duy thể chế phải thích ứng với chuyển đổi số và toàn cầu hóa.

Văn hóa ngày nay không chỉ là không gian vật chất hay di sản hữu hình, mà còn tồn tại trên không gian mạng, các nền tảng số và các dòng chảy toàn cầu. Do đó, cần chuyển từ tư duy quản lý văn hóa theo địa giới hành chính sang tư duy quản trị văn hóa theo không gian số và hệ sinh thái kết nối. Thể chế phải chủ động tạo khung pháp lý cho quản lý dữ liệu văn hóa; bảo hộ quyền tác giả trên nền tảng số; điều tiết hoạt động sáng tạo nội dung xuyên biên giới; hỗ trợ tài chính - kỹ thuật cho nghệ sĩ, doanh nghiệp trong chuyển đổi số. Ngoài ra, cần coi sáng tạo văn hóa là một “năng lực cạnh tranh mềm” của quốc gia. 

Về hoàn thiện hệ thống pháp luật: Một thể chế văn hóa hiện đại và hiệu lực không thể thiếu hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, tích hợp và có năng lực điều tiết thực tiễn cao. Trong giai đoạn mới, việc hoàn thiện pháp luật về văn hóa không chỉ nhằm “điều chỉnh hành vi” theo nghĩa truyền thống, mà còn để kiến tạo môi trường phát triển, bảo vệ chủ quyền văn hóa, bảo đảm quyền văn hóa của nhân dân, thúc đẩy công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế chiến lược.          

Rà soát và cập nhật luật liên quan đến lĩnh vực văn hóa theo hướng tích hợp, đồng bộ và hiện đại hóa.   

Hiện nay, bối cảnh xã hội thay đổi, cần tổ chức rà soát tổng thể các luật hiện hành để loại bỏ quy định lạc hậu, chồng chéo, mâu thuẫn với luật khác hoặc không còn phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số. Cập nhật các khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh mới, như di sản số, sản phẩm văn hóa số, quyền sở hữu nội dung sáng tạo trí tuệ nhân tạo, dữ liệu văn hóa, bản quyền xuyên biên giới... Tích hợp lĩnh vực liên quan, như di sản, du lịch, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn theo hướng liên ngành, tránh tình trạng luật chia cắt và khép kín từng lĩnh vực. Một số luật cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới, như Luật Thư viện, Luật Xuất bản, Luật Điện ảnh...

Ban hành luật và chính sách mới về công nghiệp văn hóa và văn hóa số.

Hệ thống pháp luật hiện nay thiếu hành lang pháp lý chuyên biệt về công nghiệp văn hóa và số hóa văn hóa. Vì vậy, cần xây dựng và ban hành luật về phát triển công nghiệp văn hóa (làm rõ các ngành, nghề thuộc công nghiệp văn hóa, tiêu chí nhận diện, cơ chế tài chính - tín dụng - đầu tư mạo hiểm, ưu đãi thuế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và công cụ hỗ trợ phát triển thị trường...); Nghị định về văn hóa số và chuyển đổi số văn hóa (để tạo khung pháp lý tạm thời quản lý dữ liệu văn hóa, số hóa di sản, lưu trữ và phân phối nội dung số, nền tảng số phân phối văn hóa, xây dựng hệ sinh thái số cho nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo). Ngoài ra, văn bản hướng dẫn thi hành luật cần được ban hành đầy đủ, kịp thời, dễ tiếp cận và có cơ chế phản hồi từ thực tiễn.

Luật hóa quyền văn hóa của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm công bằng tiếp cận văn hóa.

Nghiên cứu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao về quyền tiếp cận văn hóa, trong đó quy định rõ quyền tham gia, sáng tạo, thụ hưởng và bảo vệ văn hóa của mỗi công dân. Quy định rõ vai trò của ngân sách công trong bảo đảm thiết chế văn hóa cơ sở, chính sách trợ giá vé xem nghệ thuật, tài trợ sáng tạo nghệ thuật cộng đồng, phổ cập giáo dục nghệ thuật cho học sinh. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là cơ sở chính trị - xã hội để hiện thực hóa mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình hội nhập trong kỷ nguyên số.   

Về tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý: Một trong những nội dung trọng tâm trong quá trình hoàn thiện thể chế văn hóa hiện nay là đổi mới tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” phù hợp với đặc thù sáng tạo, bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa trong xã hội hiện đại. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là giữ được “mạch nguồn văn hóa” giữa dòng chảy cải cách hành chính.

Giải quyết mâu thuẫn giữa tinh gọn tổ chức bộ máy và yêu cầu chuyên môn hóa lĩnh vực văn hóa. 

Cần thống nhất quan điểm bộ máy tinh gọn không đồng nghĩa với tinh giản chuyên môn; bảo đảm mỗi cấp chính quyền có ít nhất một đầu mối chuyên trách về văn hóa với đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên ngành và có cơ chế phối hợp với các lĩnh vực liên quan (giáo dục, du lịch, công nghệ...). Thực hiện liên thông chuyên môn, tách bạch trách nhiệm, đơn vị đầu mối rõ ràng cho lĩnh vực văn hóa.

Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương gắn với tăng cường năng lực quản lý văn hóa ở cơ sở.

Phân cấp rõ ràng nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa theo 3 cấp: Trung ương - tỉnh, thành phố - cơ sở, trong đó Trung ương giữ vai trò xây dựng chính sách khung, hỗ trợ tài chính và hướng dẫn chuyên môn; tỉnh, thành phố giữ vai trò điều phối liên ngành; cấp xã trực tiếp triển khai và vận hành thiết chế. Trao quyền tự chủ cao hơn cho chính quyền địa phương trong việc quy hoạch không gian văn hóa, xã hội hóa hoạt động nghệ thuật, lựa chọn mô hình thiết chế phù hợp với bản sắc vùng, miền. Tăng cường trách nhiệm giải trình, kiểm tra, đánh giá để bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong quản lý văn hóa ở cơ sở khi thực hiện phân cấp, phân quyền.

Du khách trải nghiệm vẽ gốm Bát Tràng _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Về huy động nguồn lực và đầu tư: Nhu cầu đầu tư cho phát triển văn hóa ngày càng lớn và đa dạng nên việc xây dựng thể chế huy động nguồn lực và đầu tư văn hóa một cách linh hoạt, đa dạng, bền vững và hiệu quả là một trong những giải pháp trọng yếu để văn hóa thực sự trở thành động lực nội sinh để phát triển đất nước.

Đổi mới tư duy đầu tư công trong văn hóa từ cấp phát hành chính sang đầu tư phát triển.

Hiện nay, phần lớn ngân sách đầu tư công cho văn hóa vẫn theo phương thức cấp phát hành chính, chủ yếu dùng để duy tu, sửa chữa di tích, tổ chức các hoạt động thường niên, hỗ trợ các đơn vị sự nghiệp công lập..., khiến đầu tư bị dàn trải, thiếu tính chiến lược, khó tạo ra đột phá về chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược đầu tư công trung hạn trong lĩnh vực văn hóa gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và phát triển đồng đều thiết chế cơ sở. Ưu tiên đầu tư dự án có tính lan tỏa cao, có khả năng huy động thêm nguồn vốn xã hội hoặc tích hợp đa mục tiêu (văn hóa - du lịch - giáo dục - đô thị). Thiết lập bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công trong văn hóa theo hướng đa giá trị, như giá trị bảo tồn, giá trị sáng tạo, giá trị sinh kế, giá trị giáo dục, giá trị cộng đồng...

Xây dựng cơ chế xã hội hóa và đối tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa.

Xây dựng và ban hành nghị định riêng về xã hội hóa và đối tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa, tương tự như trong giáo dục và y tế, trong đó quy định rõ về điều kiện tham gia của doanh nghiệp và tổ chức ngoài công lập, ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, quảng bá; có cơ chế ký kết hợp đồng hợp tác công - tư (PPP) đối với dự án bảo tồn di sản, rạp chiếu phim, không gian sáng tạo, nhà hát, thư viện, trung tâm biểu diễn...; thành lập Quỹ Phát triển văn hóa quốc gia với mô hình hỗn hợp ngân sách nhà nước và xã hội hóa, có hội đồng thẩm định độc lập để tài trợ dự án bảo tồn, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp văn hóa và ươm mầm tài năng.

Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường văn hóa - sáng tạo.

Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa với chính sách hỗ trợ về vốn, không gian làm việc, tư vấn sở hữu trí tuệ, ươm tạo nội dung, kết nối thị trường; phát triển chính sách tín dụng đặc thù cho doanh nghiệp văn hóa với sự tham gia của ngân hàng chính sách và quỹ đầu tư sáng tạo. Khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào hạ tầng văn hóa hiện đại, như rạp hát, bảo tàng tương tác, trung tâm lưu trữ di sản số, nền tảng phân phối nội dung...

Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước.

Thành lập Trung tâm điều phối dự án quốc tế về văn hóa, có chức năng kết nối đối tác, tư vấn kỹ thuật, theo dõi triển khai, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong tiếp nhận và sử dụng vốn viện trợ. Thúc đẩy hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và các thành phố sáng tạo quốc tế trong mạng lưới của UNESCO để huy động nguồn lực kỹ thuật, đào tạo và truyền thông văn hóa địa phương ra thế giới.

Về đổi mới cơ chế điều phối liên ngành: Hầu hết các lĩnh vực then chốt của phát triển văn hóa đều có tính chất liên ngành, như giáo dục văn hóa - nghệ thuật cần sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước liên quan, chính quyền địa phương... Tuy nhiên, hệ thống quản trị văn hóa hiện đang thiên về quản lý theo ngành dọc, đơn ngành, đơn nhiệm, khiến chính sách văn hóa gặp tình trạng “thiếu đầu mối phối hợp, thiếu hệ thống triển khai, thiếu nguồn lực hỗ trợ”. Điều này dẫn tới sự đứt gãy trong chuỗi chính sách, lãng phí nguồn lực và triệt tiêu hiệu quả tổng hợp của các sáng kiến văn hóa.

Để khắc phục tình trạng trên, cần nghiên cứu hình thành một mô hình điều phối liên ngành bền vững với thể chế hóa đầy đủ, được phân quyền và giám sát hiệu quả. Cụ thể là:

Ở cấp Trung ương: Thành lập Hội đồng quốc gia về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, với sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành liên quan. Hội đồng có nhiệm vụ định hướng chiến lược, điều phối chính sách liên ngành, giám sát kết quả thực hiện và thúc đẩy sự phối hợp liên bộ, ngành trong chương trình mục tiêu, chiến lược quốc gia và kế hoạch đầu tư cho văn hóa. Song song, cần có một Văn phòng điều phối liên ngành về công nghiệp văn hóa và văn hóa số trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giữ vai trò tham mưu, tổng hợp, điều phối thực thi giữa bộ, ngành và hỗ trợ triển khai dự án.

Ở cấp địa phương: Mỗi địa phương cần xây dựng quy chế phối hợp giữa sở, ngành liên quan, trong đó giao đầu mối rõ ràng, gắn trách nhiệm, kết quả với từng sở, có cơ chế tài chính kèm theo.

Dường như văn hóa vẫn chưa thực sự đứng chân trong các chiến lược lớn về kinh tế, quy hoạch, công nghệ, giáo dục, đô thị, môi trường... Để khắc phục tình trạng này, cần nghiên cứu thể chế hóa nguyên tắc: “Lồng ghép văn hóa như một hợp phần chiến lược” trong văn bản chính sách đa ngành. Mọi quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, kế hoạch chuyển đổi số, chiến lược giáo dục, chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia... cần lồng ghép nội dung văn hóa kèm theo kế hoạch ngân sách, có cơ quan phối hợp, có cơ chế đánh giá. Văn hóa chỉ thực sự lan tỏa, tích hợp và phát huy đúng vai trò là “mạch ngầm nuôi dưỡng mọi chính sách phát triển bền vững” trong kỷ nguyên hội nhập, chuyển đổi số và “cạnh tranh mềm” toàn cầu khi có cơ chế điều phối bảo đảm tính bao trùm, liên thông, thể chế hóa rõ ràng, có đầu mối điều hành và nguồn lực cụ thể./.

-------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 109