![]() ![]() |
|
Sự nhận thức và thực hiện Luật Báo chí ở nước ta trong thời kỳ đổi mới (Cập nhật: 21/6/2007) Bằng việc ban hành Luật báo chí, Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho báo chí hoạt động. Hoạt động tích cực của báo chí đã làm cho nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được hoàn thiện hơn và được hiện thực hoá, đi vào đời sống nhanh hơn. Hơn hai mươi năm qua, sự vận động của kinh tế thị trường có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Lực lượng sản xuất trong tất cả các ngành, các lĩnh vực phát triển cả về cơ sở vật chất - kỹ thuật cũng như trình độ và hàm lượng khoa học – công nghệ. Quy mô, cơ cấu sản xuất được điều chỉnh ngày càng hợp lý hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với việc chú trọng cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội, Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI đã và đang khai thác tốt các nguồn lực trong và ngoài nước để hội nhập, cất cánh, phát triển một cách bền vững. Tuy nhiên, nhìn ở một khía cạnh khác thì cũng thấy rằng, sự năng động của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cần được bổ sung, điều chỉnh trong quá trình hiện thực hoá các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trong đó có những vấn đề thuộc về lĩnh vực báo chí. Báo chí hoạt động trong cơ chế thị trường đã có nhiều tác động tích cực, góp phần đáng kể vào sự phát triển của đời sống xã hội, nhưng mặt trái của nó cũng không ít do xu hướng lệch lạc, thương mại hoá, biến tờ báo thành một thứ hàng hoá đơn thuần, đi ngược lại các nguyên tắc hoạt động cơ bản của báo chí cách mạng. Thực trạng của hạn chế này có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản nhất vẫn là xuất phát từ nhận thức chưa thấu đáo về chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng từ cả người làm báo, và từ xã hội mà thể hiện rõ nhất là từ cơ sở của việc thực thi Luật Báo chí. Quá trình nhận thức và thực thi Luật Báo chí trong thực tiễn được nhìn nhận theo hướng : Một là, tiến hành các hoạt động nhằm dẫn dắt, định hướng hoàn thành công việc của một nhóm, một cộng đồng nhất định. Hai là, tăng cường sự nhận thức, tạo ra sự phối hợp có hiệu quả của những con người khác nhau trong một tổ chức, cũng như toàn xã hội nói chung nhưng cùng hướng về một mục đích. Bản chất của mỗi chế độ xã hội, của mỗi nhà nước là khác nhau, nhưng mục đích của việc sử dụng báo chí xét đến cùng là giống nhau. Báo chí luôn luôn là một công cụ tư tưởng nhằm thể hiện ý chí, lý tưởng của giai cấp, của dân tộc, của nhà nước. Nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, hoạt động báo chí của Nhà nước ta là thực hiện tốt nhất ý chí của nhân dân nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Đối với báo chí – một lĩnh vực gắn liền với công tác chính trị tư tưởng, với sự nghiệp cách mạng của nhân dân nên, trước đây cũng như hiện nay, Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện để báo chí hoạt động. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động báo chí là điều kiện cần thiết, nếu không muốn nói là tiên quyết để cho báo chí ở nước ta hoạt động, phát triển đúng định hướng, phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong thực tiễn, hoạt động báo chí cách mạng ở nước ta cần nhận thức rõ mấy khía cạnh cơ bản : Về phía lãnh đạo, quản lý, đó là những hoạt động nhằm thực hiện ý chí, lý tưởng của Nhà nước, của giai cấp, của dân tộc. Để thực hiện được điều này, báo chí phải thông tin, tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người dân đều có thể nhận thức rõ quyền hạn và trách nhiệm của mình, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, đồng thời kiên quyết đấu tranh với những cái xấu, cái lạc hậu, những cái làm tổn thương đến uy tín và sự ổn định, sự phát triển bền vững của chế độ. Về phía xã hội, đó là sự đòi hỏi cần phải được đáp ứng, thỏa mãn về nhu cầu thông tin. Thông tin báo chí là môi trường học tập được cập nhật nhanh nhất và phổ quát nhất, phục vụ tích cực kịp thời nhất để đông đảo người dân nâng cao sự hiểu biết, trình độ kiến thức về nhiều mặt. Trong thời đại hoàng kim của công nghệ thông tin, đối với nhiều người, báo chí là phương tiện giáo dục hữu hiệu, thiết thực để hình thành lối sống, xây dựng nhân cách, hoàn thiện con người về mặt xã hội. Về phía cá nhân người làm báo, đây là một nghề có liên quan đến chính trị, đến sự tồn vong của chế độ. Trong thực tế, người làm báo ở nước ta được Đảng, Nhà nước trao quyền hạn rất lớn nhưng không vì thế mà cho phép mình lạm dụng. Khi nói, khi viết cần hết sức cẩn trọng không để bị kẻ xấu lợi dụng và không bị vấp ngã trước những cám dỗ đời thường. Là phương tiện truyền thông luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn coi báo chí là một công cụ chính trị tư tưởng, vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng với kẻ thù cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Ngay từ khi khởi xướng sự nghiệp đổi mới, cùng với việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho đất nước, Đảng ta đã nêu rõ quan điểm phát triển sự nghiệp báo chí cả về nội dung và hình thức nhằm đạt được yêu cầu làm thế nào để báo chí thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân, thực hiện tốt vai trò phản ánh, định hướng, hướng dẫn dư luận, làm lành mạnh xã hội. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ chế thị trường đã tạo điều kiện cho báo chí bung ra phát triển một cách mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng. Để có thể thích nghi với cơ chế mới, các nhu cầu mới và đa dạng của công chúng, trong hoạt động báo chí nói chung, kể cả công chúng và người làm báo đều không chấp thuận phương thức thông tin một chiều, thiếu thuyết phục, song về mặt pháp lý cần phải có một hành lang luật pháp để tránh sự “vượt rào” ngoài ý muốn. Hoạt động của báo chí những năm cuối thập kỷ 80, thế kỷ XX có thể nói là phức tạp mà biểu hiện rõ nhất là tính mục đích bị xâm hại, chẳng hạn như đưa tin giật gân, đưa tin thiếu chọn lọc… Bởi vậy, từ trong thực tế hoạt động báo chí của đất nước, yêu cầu về một bộ luật báo chí mới nhằm phát huy tính sáng tạo và tiềm năng to lớn của báo chí trong việc đóng góp xây dựng xã hội được hình thành. Trước yêu cầu của thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới đất nước và sự cần thiết phải đổi mới chính bản thân báo chí và hoạt động báo chí nói chung, Luật Báo chí năm 1957 do Nhà nước ban hành đã không còn phù hợp, do vậy, căn cứ điều 4, điều 57 và điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28-12-1989, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Báo chí mới và ngày 02-01-1990, Nhà nước ban hành Luật Báo chí nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957. Luật Báo chí ban hành năm 1989 có 7 chương, 31 điều so với Luật Báo chí năm 1957 có những điểm mới cơ bản là: - Xác định rõ báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, không có báo chí tư nhân (điều 1), thể hiện rõ và đầy đủ hơn quyền tự do dân chủ của nhân dân qua báo chí (điều 2) cũng như vai trò trách nhiệm của báo chí (điều 6) đối với xã hội, đối với công dân. - Nêu rõ và đầy đủ hơn quyền thông tin và được thông tin của nhân dân (điều 4), quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin (điều 7), quyền và nghĩa vụ trả lời cải chính (điều 5, 8, 9). - Quy định đầy đủ và chi tiết hơn về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan báo chí và nhà báo, của cơ quan chủ quản báo chí (điều 12), của Nhà nước đối với báo chí (điều 17). - Quy định trách nhiệm của các cơ sở và tổ chức phát hành (điều 12, 21). - Quy định về quảng cáo trên báo chí (điều 25). - Quy định về khen thưởng và kỷ luật (điều 25). Có thể nói Luật Báo chí năm 1989 đã phản ánh những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế – xã hội của nước ta trong những năm đầu đổi mới. Về mặt nhận thức, đây là hành lang pháp lý cơ bản để cho các cơ quan báo chí và những người làm báo hoạt động. Về đối tượng điều chỉnh, Luật đã xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan báo chí và bản thân người làm báo, đồng thời điều chỉnh được mối quan hệ giữa cơ quan báo chí và nhà báo, giữa cơ quan báo chí, nhà báo và công dân. Về phương pháp điều chỉnh, Luật đảm bảo cho báo chí được tự do thể hiện ý chí của mình, đồng thời đảm bảo cho báo chí hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng và hiệu quả của đất nước, trong giai đoạn cách mạng mới, trước tình hình kinh tế, chính trị thế giới diễn biến phức tạp và sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, để giành thế chủ động trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng về thông tin, Nhà nước ta đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí (12-06-1999). Với việc sửa đổi lần này, Luật Báo chí đã kịp thời “luật hoá” một số hoạt động mới của báo chí như báo điện tử, cũng như làm rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của nhà báo, của cơ quan báo chí trong các hoạt động đối nội, đối ngoại. So với Luật Báo chí năm 1989, Luật sửa đổi bổ sung đã xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước về báo chí, phù hợp với hệ thống pháp luật chung của Nhà nước góp phần tích cực vào việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện tốt để báo chí hoạt động đi vào chiều sâu đồng thời mở rộng sự giao lưu với báo chí thế giới. Như vậy, có thể thấy rằng, bằng việc ban hành luật, Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho báo chí hoạt động. Sự hoạt động thuận lợi của báo chí đã có tác dụng tích cực, động viên, khuyến khích kịp thời các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động tích cực của báo chí đã làm cho nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được hoàn thiện hơn và được hiện thực hoá, đi vào đời sống nhanh hơn. Trong thực tế, không ai có thể phủ nhận được rằng, trong thời kỳ đổi mới, báo chí ở nước ta phát triển một cách mạnh mẽ, đa dạng, phong phú cả về hình thức lẫn nội dung thông tin, góp phần rất lớn vào thành quả phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, từ những thuận lợi về mặt pháp lý, đã có không ít cơ quan báo chí, nhà báo lạm dụng làm những việc trái với pháp luật, trái với đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc…Đằng sau sự đa dạng, phong phú về số lượng, nội dung, hình thức, có một số cơ quan báo chí theo đuổi xu hướng thương mại hoá, biến tờ báo, tạp chí thành thứ hàng hoá, vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần mà quên đi chức năng và các nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng đã được pháp luật thừa nhận. Các hoạt động bán rẻ uy tín của báo chí bằng hành vi phạm pháp, vi phạm đạo đức nghề nghiệp như phản ảnh sai sự thật, dùng uy tín của cơ quan, của bản thân để hù doạ thậm chí là tống tiền cơ sở là không thể tồn tại trong một nền báo chí hiện đại và dân chủ, nền báo chí xã hội chủ nghĩa. Khi được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mực, Luật Báo chí nước ta đảm bảo cho báo chí và nhà báo các quyền hạn để hoạt động theo hiến pháp, pháp luật, thì đi cùng với nó là trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan báo chí và nhà báo đối với xã hội phải được đề cao là rất rõ. Trong thời kỳ đổi mới, thực tế phát triển của báo chí ở nước ta cho thấy, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là phát triển thông tin báo chí phải đi đôi với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tốt của Nhà nước và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong tình hình hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự xuất hiện của các loại hình báo chí mới, cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị – tư tưởng ngày càng diễn ra gay go và phức tạp, vì vậy, nhằm giành thế chủ động, về quản lý, để Luật Báo chí được thực thi một cách nghiêm túc cần phải có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Để tạo được tiếng nói chung, có uy lực trong công tác tuyên truyền nói chung, trước tiên cần sớm triển khai và thực hiện tốt chiến lược truyền thông quốc gia, trong đó ngoài việc chú trọng, hoàn thiện quy hoạch hệ thống các cơ quan thông tin từ trung ương đến tận cơ sở thì điều không thể thiếu là phải có chính sách cụ thể đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn thật đúng mức cho “các vùng”, các cơ quan báo chí mang tính trọng điểm để các cơ quan này hội đủ khả năng, vươn lên nắm bắt được những đỉnh cao của chuyên môn và kỹ thuật. Đối với những cơ quan báo chí mang tính chủ lực, xương sống trong công tác thông tin, tuyên truyền của chế độ, cần được bao cấp và có chế độ ưu đãi, sử dụng con người một cách thích đáng để tránh cho người làm báo phải rơi vào cảnh “vật lộn” với cơm áo gạo tiền, mà không phát huy được năng lực, tài năng, khả năng sáng tạo cao nhất của mình. So với những năm đầu đổi mới, hiện tại lực lượng những người làm báo của nước ta rất đông đảo (khoảng 14.000 nhà báo chuyên nghiệp, chưa kể hàng ngàn nhà báo nghiệp dư), nhưng trong số đó không phải ai cũng có một “chuẩn” như nhau. Do đó, để có được số lượng đông đảo các nhà báo phát huy tác dụng, đem lại được tiếng nói thiết thực trong nghề nghiệp, việc xây dựng các trung tâm, trường bồi dưỡng báo chí để làm nhiệm vụ thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ những người làm báo từ tổng biên tập đến phóng viên, biên tập viên… cần được thật sự quan tâm. Đối với một số nhà báo đã được đào tạo lâu năm cũng cần được đào tạo lại để cập nhật kiến thức, trang bị tri thức làm báo chuyên nghiệp, hiện đại. Cuối cùng, cần tăng cường hơn nữa việc giám sát các hoạt động của cơ quan báo chí và nhà báo, thực thi nghiêm túc các chế tài của luật pháp nói chung và Luật Báo chí nói riêng để giúp cho báo chí luôn hoạt động đúng luật. Kịp thời chấn chỉnh ngay đối với những cơ quan báo chí và nhà báo có dấu hiệu vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp. Ngăn chặn các hành động dùng uy tín của cơ quan báo chí, của nhà báo để gây áp lực, hù dọa đối với các tổ chức, cá nhân bên ngoài cơ quan báo chí. Ngược lại đối với những cơ quan báo chí, nhà báo có công lớn trong việc thi hành nhiệm vụ, thực hiện nghiêm Luật Báo chí, pháp luật của Nhà nước cần được kịp thời khen thưởng để nêu gương, kích thích phát huy mặt tích cực của báo chí. Báo chí là công cụ tư tưởng của Đảng và Nhà nước, Nhà nước ta thực hiện việc quản lý báo chí bằng luật pháp, Luật Báo chí là cơ sở pháp lý nhằm tạo điều kiện để cho báo chí phát triển, thực hiện đúng tôn chỉ mục đích của mình, làm cho báo chí thực sự là chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong cái nhìn toàn cục, khi Nhà nước làm tốt công tác quản lý báo chí bằng pháp luật thì tất yếu là môi trường hoạt động của báo chí sẽ được trong sạch, thậm chí là mở rộng, các quyền tự do ngôn luận và dân chủ về thông tin của ngưòi dân trên báo chí được thực hiện do đó xã hội ngày càng trở nên lành mạnh. Mặt khác, khi báo chí hoạt động tốt, đúng pháp luật cũng là thực hiện đúng chức năng giám sát xã hội của mình, báo chí sẽ giúp cho Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò quản lý không những đối với báo chí mà đối với cả toàn xã hội. Có thể nói, đây là một sự tương tác mang ý nghĩa xã hội rất lớn mà thực tiễn trong những năm thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng ta đã chứng minh rất rõ. Trần Văn Tấn |
|
Địa chỉ: 28 Trần Bình Trọng, Hà Nội. |
|