Thứ Sáu, 19/7/2019
Nâng cao hiệu quả công tác dân tộc ở tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
16/6/2019 20:44' Gửi bài này In bài này
Mô hình trồng khoai tây thực hiện tại huyện Ba Bể được Dự án 3PAD tài trợ góp phần cải thiện đáng kể đời sống của đồng bào - Nguồn: bandantoc.backan.gov.vn

Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 4.859,4km2, gồm 7 huyện và 1 thành phố, 122 xã, phường, thị trấn, với 1.421 thôn, tổ dân phố, trong đó có nhiều thôn, xã đặc biệt khó khăn (54 xã thuộc khu vực III, 52 xã thuộc khu vực II, 16 xã thuộc khu vực I và 607 thôn đặc biệt khó khăn). Cả tỉnh có 316.215 người (78.987 hộ) và 7 dân tộc (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay) cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 86% dân số.

Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác dân tộc. Các chính sách về dân tộc, các chương trình, dự án về y tế, giáo dục, an sinh xã hội, phát triển đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội... được thực hiện đầy đủ, kịp thời tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, như Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135), Chương trình Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (gọi tắt là Chương trình 30a), Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông, lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn (gọi tắt là Dự án 3PAD), Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chính sách đối với người có uy tín theo Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg, ngày 16-3-2018, của Thủ tướng Chính phủ... Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, tỉnh tổ chức thực hiện Dự án Đầu tư kết cấu hạ tầng các khu dân cư đồng bào dân tộc Mông, với tổng mức đầu tư hơn 85 tỷ đồng. Tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh, đã triển khai thực hiện Đề án Phát triển kinh tế - xã hội cho các thôn đặc biệt khó khăn có đồng bào Mông sinh sống, theo đó hỗ trợ đồng bào mua giống cây, vật nuôi và chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất.

Việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách về dân tộc đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh. Đặc biệt, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông được đầu tư phát triển đã tạo điều kiện cho hàng hóa thông thương, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Đến nay, trên địa bàn tỉnh, 100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm xã và có điểm bưu điện - văn hóa, thư viện xã; 96,5% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 95% số hộ ở nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% số xã được phủ sóng điện thoại di động. Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tính đến hết năm 2018, toàn tỉnh có 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới và được công nhận xã nông thôn mới. Năm 2019, tỉnh phấn đấu có thêm 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 15 xã.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo của tỉnh có nhiều tiến bộ; công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ tiếp tục được duy trì thực hiện; chất lượng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng cao. Năm học 2018 - 2019, toàn tỉnh có 318 trường, 76.794 học sinh mẫu giáo và phổ thông. Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được ngành y tế của tỉnh duy trì và từng bước nâng cao về chất lượng. Công suất sử dụng giường bệnh đạt trên 100%. Gần đây, Bệnh viện Đa khoa tỉnh thực hiện việc đo lường, đánh giá sự hài lòng của người bệnh về chất lượng dịch vụ y tế; kết quả: đạt loại I.

Hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao diễn ra sôi nổi ở các địa phương trong tỉnh. Thời gian qua, ngành văn hóa - thể thao và du lịch tăng cường các buổi đưa thông tin về cơ sở, xây dựng 4 câu lạc bộ văn hóa, thể thao - làng văn hóa, tổ chức 40 buổi biểu diễn nghệ thuật và hơn 1.000 buổi chiếu phim phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục phát triển cả về quy mô và chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có 66% số làng, bản, tổ dân phố văn hóa và 83% số gia đình văn hóa.

Các ngành, các cấp trong tỉnh còn đẩy mạnh công tác truyên truyền, vận động, nâng cao trình độ dân trí, nhận thức chính trị của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như ý thức trách nhiệm của đồng bào đối với cộng đồng và xã hội. Nhờ đó, đồng bào luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hăng hái tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở luôn được cấp ủy các cấp quan tâm. Hiện nay, tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ là 33.130 đảng viên, sinh hoạt tại 496 tổ chức cơ sở đảng; trong đó đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm trên 83,2 %. Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương đạt trên 70%. Công tác đào tạo cán bộ luôn được chú trọng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Hằng năm, các cấp ủy đều tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức được tham gia các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị; qua đó từng bước nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác bố trí, sử dụng cán bộ luôn bảo đảm tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Ngoài ra, tỉnh còn phát huy vai trò của người có uy tín, cốt cán trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo và trong các tổ chức chính trị - xã hội, nhằm nắm tình hình và tuyên truyền, vận động nhân dân, qua đó góp phần củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.

Có thể nói, công tác dân tộc được triển khai toàn diện, có hiệu quả đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh. Tuy nhiên, công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách về dân tộc của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Một số chính sách về dân tộc chưa được triển khai kịp thời, đồng bộ; đồng bào các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí không đồng đều, tập quán canh tác còn lạc hậu, một bộ phận đồng bào vẫn còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa thật sự nỗ lực vươn lên ổn định đời sống; số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số còn chiếm tỷ lệ cao (đến nay toàn tỉnh còn 17.435 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 21,88% và 9.415 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 11,82%); kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là ở thôn, bản còn thiếu thốn; người dân còn khó khăn trong tiếp cận thông tin về sản xuất và thị trường; một số thôn, bản nằm trên địa bàn vùng đồi núi cao, chia cắt mạnh nên có nguy cơ bị thiên tai đe dọa; truyền thống văn hóa, tiếng nói, chữ viết của một số ít dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Nguyên nhân của tình trạng này là do cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương, cơ sở chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò và yêu cầu của công tác dân tộc trong thời kỳ mới, chưa quan tâm đúng mức đến việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, cũng như tổ chức triển khai thực hiện các chính sách dân tộc. Bên cạnh đó, ý thức chủ động phát huy nội lực, vươn lên thoát nghèo, tiến tới làm giàu của đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế. Ngoài ra, năng lực tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của chính quyền ở cơ sở còn nhiều bất cập, đặc biệt là năng lực làm chủ đầu tư của các xã đặc biệt khó khăn còn yếu, dẫn đến chậm tiến độ trong việc thực hiện các chương trình, dự án cũng như giải ngân các nguồn vốn giao.

Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc và các chính sách về dân tộc trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới, tỉnh xác định tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách về dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy tối đa nội lực của nhân dân trong tham gia thực hiện các chương trình, dự án, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước; đồng thời tổ chức lồng ghép các nguồn lực, chương trình, dự án trên địa bàn để đạt hiệu quả cao nhất. Thực hiện tốt công tác giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách về dân tộc và công tác dân tộc. Ngoài ra, mỗi cán bộ, công chức ở các cơ quan, đơn vị từ tỉnh đến cơ sở cần nắm vững phương châm: Thực hiện công tác dân tộc là “gần dân, nghe dân và học dân”; đi sâu nghiên cứu tình hình, đặc điểm của từng vùng dân tộc, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc; động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo.

Hai là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trước hết là phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng. Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án đầu tư theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng các mô hình, các vùng chuyên canh trong sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số. Tranh thủ mọi nguồn lực, các chính sách tín dụng ưu đãi, phát huy vai trò của các doanh nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở địa phương. Tăng cường công tác tổ chức đào tạo nghề gắn với giới thiệu việc làm, tạo việc làm mới cho người dân tộc thiểu số, nhất là các hộ nghèo. Khôi phục và phát triển các ngành, nghề truyền thống, các ngành, nghề có điều kiện phát triển ở địa phương.

Ba là, nâng cao chất lượng các chương trình truyền thanh - truyền hình địa phương. Tích cực phản ánh, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia các lễ hội truyền thống nhằm duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như tham gia các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, bài trừ mê tín, dị đoan và những hủ tục lạc hậu. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao; tôn vinh và bảo vệ các di tích văn hóa ở địa phương. Thực hiện tốt việc sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc...

Bốn là, đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo ở nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động nhiều nguồn lực đầu tư, củng cố mạng lưới trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất, trang, thiết bị dạy học theo hướng tập trung, bán trú và kiên cố hóa. Tạo điều kiện tối đa cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đến trường. Bảo đảm chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với học sinh là người dân tộc thiểu số.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số về công tác phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe. Chủ động phòng, chống dịch bệnh, đa dạng hóa các dịch vụ y tế để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh và chính sách bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo, nhất là hộ nghèo thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số. Đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao trách nhiệm của ngành y tế để đáp ứng được nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số. Giải quyết tốt những vấn đề cốt yếu, như thiếu lương thực, nước sinh hoạt, tư liệu sản xuất, kết cấu hạ tầng thiết yếu... cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Bảy là, tiếp tục nâng cao kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tham gia quản lý, giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thực hiện tốt chính sách, pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn đối với những hoạt động lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số vào các hoạt động gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương./

Nguyễn Văn DuỦy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn

Video