Thứ Tư, 17/7/2019
Tỉnh Lâm Đồng: Nhìn lại và tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X trong thời gian tới
13/6/2019 16:26' Gửi bài này In bài này
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, bằng quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy Đảng, chính quyền, địa phương nên diện mạo nông nghiệp, nông dân và nông thôn Lâm Đồng đã tạo sự chuyển biến rõ rệt - Nguồn: baolamdong.vn

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết sâu rộng đã tạo được bước chuyển mới

Ngay sau khi đón nhận Nghị quyết, Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 68-CTr/TU nhằm cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu, định hướng trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại tỉnh. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn thực hiện bằng Quyết định số 31/QĐ-UBND để phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng sở, ban, ngành và các huyện, thành phố xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết.

Nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về vai trò và tầm quan trọng của Nghị quyết, Tỉnh ủy đã chỉ đạo các Đảng ủy trực thuộc, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể trong tỉnh tổ chức quán triệt, phổ biến Nghị quyết sâu rộng đến từng cơ sở. Các cơ quan truyền thông thường xuyên truyền tải các chủ trương, định hướng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác. Nhiều phong trào thi đua lớn được Trung ương, tỉnh phát động, triển khai thực hiện như: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” gắn với “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”... đã mang lại hiệu quả thiết thực, tạo sức lan toả sâu rộng đến tầng lớp nhân dân, nhất là người dân nông thôn.

Nhiều chủ trương phát triển sản xuất nông nghiệp, nông dân và nông thôn được thể chế, cụ thể hóa bằng các chính sách, chương trình, dự án, nhiệm vụ trọng tâm đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện bảo đảm phù hợp với thực tiễn điều kiện cụ thể của địa phương qua từng giai đoạn. Giai đoạn 2011 - 2015, Tỉnh ủy chủ trương phát triển nông nghiệp toàn diện, sản xuất hàng hóa theo quy mô lớn, bền vững, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học góp phần tạo sự chuyển biến nhanh, tích cực cho nông dân, đặc biệt ở các vùng khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách với các khu đô thị; Xây dựng nông thôn có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng phát triển từng bước hiện đại, dân trí nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ. Giai đoạn 2016 - 2020, tiếp tục tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành, các địa phương bám sát Nghị quyết, Chương trình hành động để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; đồng thời xem xét, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển chung trong thời kỳ mới.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, bằng quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy Đảng, chính quyền, địa phương nên diện mạo nông nghiệp, nông dân và nông thôn Lâm Đồng đã tạo sự chuyển biến rõ rệt: Sản xuất tăng trưởng ổn định theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị nông sản; Cơ cấu cây trồng dịch chuyển theo đúng định hướng, đi vào khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng sinh thái; Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; Vệ sinh an toàn thực phẩm cải thiện nên các chỉ số vượt ngưỡng an toàn cho phép trong nông sản của tỉnh chiếm tỷ lệ thấp, diện tích sản xuất được chứng nhận theo tiêu chuẩn an toàn có chiều hướng tăng; Hạ tầng sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn tiếp tục cải thiện; Mô hình, phương thức quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi, nước sạch được đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng... Cụ thể, giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt 36.743 tỷ đồng (tăng 26.742,6 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 6,1%; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của địa phương nên nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ 46,8%, công nghiệp - xây dựng 17,6%, dịch vụ 35,6%; Giá trị sản xuất đất canh tác đạt 158 triệu đồng/ha/năm (tăng 3,5 lần) đã mang lại thu nhập bình quân cho nông dân đạt trên 90 triệu đồng/ha/năm; Sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa đồng bộ trên 95% khâu làm đất, 30% khâu chăm sóc, bón phân, thu hoạch; Tỷ lệ nông phẩm qua sơ chế, chế biến đạt trên 75%, chế biến bằng công nghệ tiên tiến đạt trên 20%; Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp là 66% (giảm 7,4%), trong đó lao động qua đào tạo chiếm trên 60%; Tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh đạt 87% (tăng 22%); Tỷ lệ hộ dân nông thôn dùng điện đạt 99,45% (tăng trên 19,45%); Thu nhập bình quân đầu người nông thôn đạt 34,1 triệu đồng/người/năm (tăng 24,4 triệu đồng/người/năm); Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 3,91% (giảm 7,62%); Đã có 100% các xã trong tỉnh có đường giao thông đi lại, đường ô-tô đến trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa; Toàn tỉnh có 76/117 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 65% (trong đó, huyện Đơn Dương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là huyện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015, thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc đã có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới).

Còn những hạn chế nhất định

Về phát triển nông nghiệp: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch vẫn chậm, trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ còn thấp (chăn nuôi 15,5%, dịch vụ 3,1%). Giá thành nông sản cao, nguyên liệu đầu vào chưa được chủ động, mức độ ứng dụng cơ giới hóa và tự động hóa trong khâu chăm sóc và thu hoạch, chế biến rất thấp. Xu hướng phân hóa nhỏ lẻ trong sản xuất tràn lan, giải pháp chính để tích tụ đất đai hướng tới sản xuất hàng hóa quy mô lớn chỉ dựa trên cơ sở liên kết trong sản xuất là chính. Đóng góp từ kinh tế lâm nghiệp còn rất thấp, chưa tạo được sự đột phá trong nghiên cứu, chuyển đổi các giống cây mới cho năng suất, hiệu quả trồng rừng cao.

Trong xây dựng nông thôn: Hạ tầng sản xuất nông nghiệp và nông thôn tuy có sự cải thiện nhưng vẫn thiếu sự đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nông dân. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị còn hạn chế; thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có xu hướng giảm; kinh tế tập thể tăng nhanh về lượng nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa thể hiện được vai trò là thành phần kinh tế chủ đạo theo định hướng của Đảng. Công tác bảo vệ môi trường nông thôn chưa có các giải pháp thực sự hiệu quả ngay cả đối với những địa phương đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân nông thôn: Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều giữa các vùng, địa bàn trong tỉnh; Đời sống, thu nhập một bộ phận nông dân còn khó khăn, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; Tỷ lệ giảm nghèo giữa các khu vực trong tỉnh còn chênh lệch cao; Công tác đào tạo nghề lao động nông thôn vẫn chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện, phương tiện, một số giá trị văn hóa, nghề truyền thống đang có nguy cơ mai một.

Những bài học kinh nghiệm quý

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn được quan tâm đúng mức. Việc ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của các cấp phải bảo đảm chất lượng, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; Chú trọng công tác kiểm tra, đôn đốc, gắn với việc sơ kết tổng kết nhiệm vụ chính trị hằng năm. Bên cạnh đó, phải coi trọng công tác tuyên truyền, vận động nhằm tạo chuyển biến thật sự trong nhận thức, hành động đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; Phát huy, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền làm chủ theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân chọn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và thụ hưởng”.

Thứ hai, đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; trước hết là người đứng đầu các ngành, các cấp. Công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền phải chủ động sáng tạo, quyết liệt. Lựa chọn các nội dung mang tính đột phá để tập trung thực hiện. Chú trọng sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm xây dựng các mô hình điểm để nhân rộng và kịp thời khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Thứ ba, tích cực huy động, lồng ghép các nguồn lực xã hội vào phát triển địa phương. Tranh thủ sự hỗ trợ, đầu tư của Trung ương, nguồn vốn của địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư kết cấu hạ tầng, các công trình trọng điểm nhằm phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội; chú trọng huy động nguồn tín dụng đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến, hiệu quả.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo bước đột phá trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị nông sản.

Thứ năm, triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý nhà nước, công nghệ, tuyên truyền vận động để giải quyết, khắc phục các nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng tới môi trường sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động khác tại nông thôn để hình thành nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

Tiếp tục nỗ lực trong thời gian tới

Tiếp tục quán triệt Nghị quyết bằng triển khai thực hiện nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại; nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản, tăng tỷ lệ xuất khẩu. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ mới; phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; tăng cường công tác quản lý bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an ninh nông thôn và an toàn xã hội”. Để đạt được mục tiêu trên, cả hệ thống chính trị cần triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt sâu sắc nội dung tinh thần Nghị quyết. Hệ thống hóa các chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn thật hợp lý để hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân cũng như từng cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng, chính quyền, các cơ quan, doanh nghiệp hiểu đầy đủ, sâu sắc về quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng nông nghiệp, nông dân và nông thôn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong tuyên truyền, vận động, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết phải xác định rõ mục tiêu cao nhất là không ngừng nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, theo hướng: Đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, chú trọng việc phổ biến các cách làm hay, mô hình tốt phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới sát hợp với tình hình thực tế, bảo đảm thực sự có hiệu quả.

Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu, phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại. Nhanh chóng triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; trong đó tập trung đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ theo hướng đồng bộ, hiện đại gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp; xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn, hiệu quả và sức cạnh tranh cao gắn với phát triển các chuỗi giá trị, bảo đảm phát triển toàn diện, bền vững; tiếp tục phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh 4.0 và nông nghiệp hữu cơ. Ưu tiên thực hiện các giải pháp tạo động lực phát triển sản xuất, kinh doanh, theo hướng đa dạng ngành nghề tại nông thôn, gìn giữ các nghề truyền thống gắn với phát triển mô hình du lịch canh nông. Kết hợp phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn với vùng nguyên liệu để tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng thu hút đầu tư, liên kết hợp tác phát triển sản xuất gắn với thu mua, chế biến, bảo quản, tiêu thụ bằng cách làm mới, có tính chiến lược với công nghệ ngày càng hiện đại, nâng cao chất lượng, giá trị các sản phẩm nông nghiệp.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa. Tiếp tục tăng cường đầu tư phát triển mạng lưới giao thông nông thôn, hệ thống mạng lưới điện nông thôn; thực hiện tốt các chính sách phát triển điện phục vụ các khu sản xuất tập trung tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao nhanh hơn đời sống của cư dân nông thôn. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất ngành giáo dục đạt chuẩn quốc gia, củng cố và nâng cao chất lượng các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm ở khu vực nông thôn. Phát triển mạng lưới y tế cơ sở; nâng cấp các trung tâm y tế, trạm y tế, đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Từng bước nâng cấp và xây dựng hoàn chỉnh cơ sở vật chất văn hóa gắn với hoàn thiện tổ chức, đào tạo cán bộ nâng cao trình độ nghiệp vụ để nâng cao chất lượng hoạt động.

Bốn là, bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai. Xây dựng các tiêu chí, quy trình kỹ thuật để thực hiện các mô hình canh tác theo hướng cảnh quan bền vững. Sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm. Bố trí lại các vùng sản xuất, nhất là đối với diện tích sử dụng nhà kính nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động phòng chống thiên tai: Điều tiết cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhất là các cây trồng ở vùng thường xuyên xảy ra hạn hán, điều chỉnh mùa vụ phù hợp với sự biến đổi của thời tiết, khí hậu; Triển khai thực hiện có hiệu quả Quỹ phòng chống thiên tai. Tiếp tục tổ chức thực hiện việc thu gom và xử lý rác thải tập trung tại các xã, trên cơ sở xây dựng và nhân rộng các mô hình xử lý rác thải phù hợp với điều kiện của từng xã; cải tạo, phát triển nhanh cảnh quan, môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao mức hưởng thụ cho người dân vùng nông thôn.

Năm là, đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức sản xuất nông thôn nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn gắn với xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Rà soát, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn một cách thống nhất để tránh chồng chéo, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện. Điển hình: Chuyển đổi các hình thức hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp mang tính dàn trải sang hỗ trợ hình thành các mô hình đồng bộ, khép kín có tính mới để tạo tính đột phá và hiệu quả cao, bền vững, thuận lợi trong công tác tuyên truyền, nhân rộng mô hình; Thực hiện các chính sách nhằm khuyến khích tích tụ đất đai qua hỗ trợ phát triển trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác và thu hút đầu tư, liên kết trong sản xuất nông nghiệp để tạo ra quỹ đất tập trung; Ưu tiên thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp bằng đổi mới các cơ chế tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; Tăng cường chính sách nghiên cứu khoa học như hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu khoa học, chế tạo máy móc thiết bị cơ giới hóa trong sản xuất...

Sáu là, chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế. Tiếp tục thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết số 19/2017/NQ-CP và Nghị quyết 35/2016/NQ-CP của Chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, giảm chi phí khởi nghiệp, giảm chi phí đầu vào, khuyến khích đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tăng cường mở rộng hợp tác với các đối tác, tổ chức và địa phương nước ngoài./.

Bạch Mai

Video