Nông nghiệp Nông dân Nông thôn
Còn nhiều thách thức trong giải quyết việc làm ở nước ta
16:15' 3/1/2008


Trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì chủ trương tăng trưởng kinh tế đi cùng với giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Nhờ vậy, bên cạnh những thành công to lớn về kinh tế, xã hội, vấn đề giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy vậy hiện tại vấn đề này vẫn còn những khó khăn không nhỏ, đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ.

Những thành tựu đáng ghi nhận

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp và chính sách đồng bộ nhằm phát triển thị trường lao động và giải quyết việc làm. Bộ luật Lao động được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1-1-1995, sau hai lần sửa đổi và bổ sung, đã tạo hành lang pháp lý cho quan hệ lao động phát triển. Các văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp,... đã khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư, phát triển kinh tế, tạo việc làm. Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản. Nếu như trước đây quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản thân người lao động. Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò quan trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo việc làm và phát triển thị trường lao động ở nước ta.

Lộ trình tạo việc làm và giải quyết việc làm đã được triển khai đồng bộ trên cả ba hướng:

Thứ nhất, về giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện chủ trương và chính sách phát triển mạnh các thành phần kinh tế; đổi mới, sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích kinh tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình, thu hút vốn đầu tư ngoài nước, tổng vốn đầu tư xã hội trong những năm qua luôn được duy trì ở mức cao - trên 35% GDP, trong đó năm 2006 là 41%. Vốn đầu tư nước ngoài liên tục gia tăng, năm 2006 đạt 10,2 tỉ USD. Số doanh nghiệp cũng phát triển mạnh - cuối năm 2006 có gần 250 ngàn doanh nghiệp. Đây là điều kiện cơ bản nhất để tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động.

Bên cạnh đó, nhiều chương trình kinh tế trọng điểm được triển khai thực hiện, như chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn với các mô hình kinh tế trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản; xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; xây dựng các công trình trọng điểm đã mở ra nhiều cơ hội việc làm. Kết quả là trong 5 năm 2001 - 2005, cả nước đã tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động, tăng 25% so với giai đoạn 1996 - 2000; năm 2006 tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động. Trong đó, các chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội đã giải quyết việc làm cho 5,55 triệu lao động.

Thứ hai, khi chuyển sang kinh tế thị trường, có một bộ phận người lao động, do những khó khăn nhất định, khó hội nhập được vào thị trường lao động. Đó là những người mất việc, không có việc làm và thiếu việc làm, người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, người tàn tật và các đối tượng yếu thế khác. Nhằm hỗ trợ các đối tượng này, Chính phủ đã xây dựng và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2001- 2005. Hoạt động chính của Chương trình tập trung vào triển khai Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, hiện đại hóa và nâng cao năng lực của các Trung tâm giới thiệu việc làm, tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường lao động và đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý lao động - việc làm.

Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm cung cấp các món vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường cho các đối tượng không có việc làm hoặc thiếu việc làm, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có dự án thu hút người lao động thất nghiệp, chưa có việc làm vào làm việc. Tổng nguồn Quỹ hiện nay là 2.900 tỉ đồng, đã cho vay hàng chục ngàn dự án, trở thành một trong những hướng quan trọng hỗ trợ các đối tượng yếu thế có việc làm. Tính bình quân hằng năm, Quỹ đã tạo việc làm cho 30 - 35 vạn lao động. Nhiều mô hình tạo việc làm có hiệu quả từ Quỹ đã được triển khai và nhân rộng.

Chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ việc làm đã chú trọng xây dựng và phát triển hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, làm cầu nối giữa người lao động tìm việc và các doanh nghiệp cần tuyển người. Hiện cả nước có 160 Trung tâm giới thiệu việc làm, hằng năm đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 300 ngàn lao động và cung ứng 250 ngàn lao động cho các doanh nghiệp.

Thứ ba, đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Luật Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này ngày càng phát triển. Những năm gần đây, công việc này ngày càng đi vào nền nếp và trở thành một hướng quan trọng của chương trình việc làm, tăng thu nhập và xóa đói, giảm nghèo. Thị trường nhận lao động Việt Nam có xu hướng mở rộng, từ chỗ chỉ có 15 nước năm 1995 với 10.050 người đến nay lao động Việt Nam đã có mặt ở trên 40 nước và vùng lãnh thổ, với hơn 30 nhóm ngành nghề khác nhau. Từ năm 2001 đến 2006, cả nước đã đưa được gần 400 ngàn lao động đi làm việc ở nước ngoài, nâng con số lao động đang làm việc ngoài nước lên gần 500 ngàn, hằng năm chuyển về nước khoảng 1,6 tỉ USD, góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân, gia đình và đóng góp vào tổng mức đầu tư của xã hội.

Những thách thức không nhỏ

Nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động còn rất lớn. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị tuy thấp nhưng tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn còn phổ biến. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp và chất lượng lao động chưa cao khiến cho giải quyết việc làm cho người lao động càng khó khăn hơn. Sự thiếu gắn kết giữa hệ thống đào tạo và thị trường lao động làm cho số thanh niên tốt nghiệp các trường không có việc làm hoặc làm việc trái ngành nghề, không đúng chuyên môn được đào tạo đang trở thành vấn đề xã hội bức xúc. Ngân sách đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm còn quá ít so với nhu cầu, nguồn vốn nhà nước bổ sung hằng năm chỉ đáp ứng 35% - 40% nhu cầu vay vốn tạo việc làm của nhân dân. Việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng xã hội chưa gắn với các giải pháp chuyển đổi nghề, tạo việc làm ổn định cho người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.

Số lượng doanh nghiệp còn nhỏ bé, quy mô bình quân 50 lao động/doanh nghiệp, phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động gia công là chủ yếu, giá trị gia công thấp, khả năng đầu tư phát triển sản xuất, thu hút lao động hạn chế. Thị trường lao động phát triển tập trung ở các tỉnh thành phố có nhiều các khu công nghiệp - khu chế xuất, ở ba vùng kinh tế trọng điểm, các tỉnh khác còn ở mức độ sơ khai, đặc biệt là sự dịch chuyển lao động giữa các vùng trong nước, giữa các khu vực, các ngành, còn có những rào cản do mất cân đối cung - cầu lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động còn yếu.

Quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư mạnh mẽ kích thích sự di chuyển lao động ngày càng tăng kể cả trong và ngoài nước. Việc Việt Nam trở thành thành viên WTO mở ra các cơ hội đầu tư và việc làm to lớn song cũng khiến cho cạnh tranh trên thị trường trở nên quyết liệt hơn, nguy cơ một bộ phận lao động mất việc làm cũng không phải là không cần tính đến.

Mục tiêu và giải pháp

Mục tiêu chung giải quyết việc làm đến 2010 là bảo đảm việc làm cho 49,5 triệu lao động, tạo việc làm mới cho 8 triệu lao động trong 5 năm 2006 - 2010 và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống dưới 5%; phát triển đồng bộ thị trường lao động, từng bước cân đối cung cầu lao động, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.

Mục tiêu cụ thể đến 2010 là giải quyết việc làm trong nước cho 6 - 6,4 triệu lao động, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,5 - 1,6 triệu lao động, trong đó tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm khoảng 350.000 lao động/năm. Đưa khoảng 40 - 50 vạn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài - tăng tỷ lệ lao động có nghề trong tổng số lao động xuất khẩu lên 65% vào năm 2010; nâng cao năng lực hiện đại hóa 30 - 40 trung tâm giới thiệu việc làm, xây dựng cơ sở dữ liệu và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động ở nước ta. Phấn đấu chuyển dịch cơ cấu lao động đến năm 2010 đạt: Lao động trong nông - lâm - ngư nghiệp: 49,62% ; lao động trong khu công nghiệp, xây dựng: 22,94 %; lao động dịch vụ 27,43%.

Để đạt được các mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt trong khu vực nông nghiệp và nông thôn; phát triển mạnh các làng nghề, xã nghề, khôi phục mở rộng các làng nghề truyền thống đi đôi với xây dựng các làng nghề mới; phát triển tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông, lâm, thủy sản với quy mô vừa và nhỏ nhằm tạo việc làm mới và chuyển đổi cơ cấu lao động khu vực nông thôn;

Hai là, đầu tư phát triển những ngành mà Việt Nam có lợi thế, những ngành kinh tế mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kỹ thuật cao song song với những ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư không nhiều song thu hút được nhiều lao động. Hình thành các khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế mở, khu chế xuất. Đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tăng năng suất lao động và cải thiện đời sống của người lao động. Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, bao gồm cả hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, nhằm phát huy mọi nguồn lực cho phát triển sản xuất kinh doanh; đầu tư, đẩy mạnh các ngành dịch vụ và thương mại, khai thác các tiềm năng du lịch của đất nước.

Ba là, thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của đất nước, gắn các dự án tạo việc làm như một bộ phận không thể thiếu trong triển khai các chương trình dự án này. Tăng đầu tư cho phát triển và nâng cao chất lượng nguồn lao động, bảo đảm đồng bộ giữa các yếu tố lao động, vốn đất, công nghệ... trong xây dựng và phê duyệt quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch vùng, địa phương, ngành, sản phẩm để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động quý báu của đất nước.

Bốn là, thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm giai đoạn 2006- 2010 được phê duỵêt tại Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 6-7- 2007 của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy mạnh thực hiện các dự án tạo việc làm; hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả, chất lượng của hệ thống dịch vụ việc làm gắn với việc triển khai các chính sách thị trường lao động trong bảo hiểm thất nghiệp. Tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường lao động đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động.

Năm là, có các chính sách và dự án ưu tiên tạo việc làm cho nông dân, đặc biệt là nông dân ở các vùng thu hồi đất cho phát triển công nghiệp và đô thị; đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho lao động và thanh niên nông thôn.

Sáu là, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động; đổi mới công tác kế hoạch hóa, thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp. Nắm bắt tín hiệu của thị trường về lao động qua đào tạo để bảo đảm gắn công tác đào tạo với nhu cầu của xã hội, đáp ứng nhu cầu về lao động, đồng thời tránh lãng phí cả về ngân sách và thời gian vật chất dành cho đào tạo; giải quyết các bức xúc về việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Đặc biệt triển khai thực hiện có hiệu quả Dự án dạy nghề và tạo việc làm cho thanh niên; hoàn thiện hệ thống chính sách tín dụng ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh (doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, làng nghề truyền thống) và hộ gia đình để tạo nhiều việc làm cho thanh niên.

Bảy là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước theo hướng ổn định và giữ vững các thị trường hiện có; mở rộng thị trường nhận lao động Việt Nam sang các khu vực, các nước phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề của lao động Việt Nam; gia tăng số lượng và chất lượng lao động xuất khẩu. Tổ chức tốt công tác đào tạo nghề, giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu. Xây dựng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đủ mạnh, có năng lực cạnh tranh nhằm khai thác và thâm nhập các thị trường nhận lao động.

Đàm Hữu Đắc

VIDEO