Thứ Năm, 15/11/2018
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội
10/2/2014 22:19' Gửi bài này In bài này

Một số vấn đề về thực trạng công tác lập pháp của Quốc hội 

Trong thời gian qua, công tác lập pháp của Quốc hội thường xuyên được đổi mới và ngày càng có hiệu quả hơn. Đặc biệt, từ năm 1992 đến nay, hoạt động lập pháp được Quốc hội quan tâm đẩy mạnh trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 và quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, và do vậy đã đạt được những kết quả quan trọng.

Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý phục vụ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta theo hướng ngày càng sâu rộng, trọng tâm hướng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Hiện nay, hoạt động lập pháp của Quốc hội cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nhìn chung, số lượng các văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày càng tăng, với chất lượng ngày càng được nâng lên. Cụ thể, nếu Quốc hội khóa IX (1992 - 1997) ban hành được 41 luật, bộ luật và 43 pháp lệnh; Quốc hội khóa X (1997 - 2002) ban hành được 34 luật, bộ luật và 40 pháp lệnh thì với việc thực hiện các quy định mới qua sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp năm 1992 (năm 2001) và việc cải tiến mạnh mẽ quy trình xem xét, thông qua luật, Quốc hội khóa XI (2002 - 2007) đã thông qua 84 luật, bộ luật (đạt kỷ lục, hơn gấp đôi các khóa trước), trong đó có những đạo luật lần đầu tiên ban hành ở Việt Nam, như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Thủy sản, Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Trong nhiệm kỳ rút ngắn, chỉ gần 4 năm, nhưng Quốc hội khóa XII (2007 - 2011) cũng đã thông qua được 67 luật, bộ luật và 14 pháp lệnh. Trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII (từ năm 2011 đến tháng 9-2013), Quốc hội đã thông qua 37 luật, bộ luật và 7 pháp lệnh.

Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua, về cơ bản, có chất lượng ngày càng cao, bao quát tương đối đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về nội dung, các văn bản này đã bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước; đều bám sát và phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày càng có nhiều văn bản sau khi ban hành có thể triển khai thực hiện ngay mà ít phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành nên sớm đi vào cuộc sống, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và điều hành kinh tế - xã hội của đất nước.

Nội dung các vấn đề được điều chỉnh trong các luật ngày càng mở rộng, bao phủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tổ chức bộ máy nhà nước, hành chính, dân sự, hình sự, tư pháp,... Quốc hội đã quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương; quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước. Nhiều văn bản luật về kinh tế thuộc các lĩnh vực: doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, tín dụng, thương mại, kinh doanh bất động sản, cải cách chính sách thuế,… được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm phù hợp với điều kiện, mục tiêu phát triển đất nước, yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Một số quan hệ kinh tế quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, như quản lý và sử dụng tài sản nhà nước; quản lý nợ công; trưng mua, trưng dụng tài sản; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; thuế thu nhập cá nhân;... đã được Quốc hội dành nhiều thời gian, trí tuệ, công sức xây dựng thành luật và ban hành. Đồng thời, Quốc hội đã quan tâm sửa đổi, bổ sung kịp thời các chế định pháp luật không còn phù hợp thuộc các lĩnh vực, như ngân hàng; tín dụng; thuế; đầu tư xây dựng cơ bản; phòng, chống tham nhũng; quốc tịch; giao thông đường bộ; xuất bản; sở hữu trí tuệ, điều ước quốc tế;... để đáp ứng nhu cầu hội nhập, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Việc ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã góp phần tạo nên những chuyển biến quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật. Quy trình lập pháp đã từng bước được đổi mới, cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tính chủ động, dân chủ, cụ thể trong văn bản pháp luật. Với việc ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, một số khâu trong quy trình lập pháp đã có sự thay đổi, bảo đảm tính khoa học, dân chủ và chặt chẽ hơn. Việc điều chỉnh thời gian Quốc hội thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm vào kỳ họp đầu năm của năm trước thay vì kỳ họp cuối năm đã tạo điều kiện để cơ quan soạn thảo, cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh có thêm thời gian, chủ động trong việc chuẩn bị, xây dựng văn bản. Quá trình sửa đổi, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện linh hoạt hơn, theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể xem xét thay đổi Chương trình và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Bên cạnh đó, vấn đề lồng ghép giới trong quy trình lập pháp cũng đã được quy định. Thực tiễn đã chứng minh những điều chỉnh này là phù hợp, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật. Việc giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan chủ trì chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện dự án luật trình Quốc hội thông qua đã góp phần tăng thêm tính chủ động từ phía các cơ quan của Quốc hội, nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện dự án.

Về kỹ thuật lập pháp, Quốc hội đã áp dụng hình thức ban hành một luật để sửa đổi, bổ sung nội dung của một số luật nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống, tiết kiệm thời gian, đơn giản thủ tục mà vẫn bảo đảm chất lượng của dự án luật.

Trong thời gian qua, một số ủy ban của Quốc hội đã chủ động đề xuất và chủ trì soạn thảo dự án luật, trong đó có dự án đã trình Quốc hội thông qua (Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường soạn thảo dự án Luật Giao dịch điện tử; Ủy ban Về các vấn đề xã hội soạn thảo dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình). Điều này cho thấy năng lực lập pháp của Quốc hội ngày càng được tăng cường. 

Công tác soạn thảo, thẩm tra dự án luật được tiến hành tích cực, có sự phân công rõ ràng về cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp. Quá trình chuẩn bị dự án có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan, với tinh thần cộng đồng trách nhiệm. Các cơ quan của Quốc hội đã chủ động nghiên cứu, khảo sát thực tế, tham khảo, lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, các chuyên gia, nhà khoa học, ý kiến của cử tri,... Vì vậy, các báo cáo thẩm tra ngày càng có chất lượng hơn, thể hiện rõ chính kiến, có tính phản biện cao, có cơ sở khoa học và thực tiễn hơn. Công tác chỉnh lý, hoàn thiện văn bản trước khi trình Quốc hội thông qua được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, thận trọng. 

Các đoàn đại biểu Quốc hội có nhiều hình thức thảo luận, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức hữu quan và cá nhân ở địa phương vào các dự án luật. Các đại biểu Quốc hội luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, chủ động nghiên cứu, tích cực đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng văn bản ban hành. 

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về các dự án luật được chú trọng và từng bước đổi mới, hình thức đa dạng, phong phú, trong đó có việc phát huy và sử dụng thế mạnh của công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông. Việc lấy ý kiến về các dự án luật tập trung vào nhiều đối tượng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản luật sẽ được ban hành. Việc công khai dự thảo văn bản trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên các trang thông tin điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp kịp thời nắm bắt được dự kiến những thay đổi về chính sách, pháp luật để đóng góp ý kiến xây dựng văn bản và chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện sau này. Việc lấy ý kiến về các dự án luật ngày càng có hiệu quả, thể hiện tính dân chủ, sự thận trọng trong hoạt động lập pháp, huy động được trí tuệ, sự đồng thuận của nhân dân, bảo đảm tính rõ ràng, công khai, minh bạch ngay trong khi dự kiến hoạch định chính sách.

Việc xem xét, thông qua dự án luật đã từng bước được cải tiến, góp phần nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ của việc xem xét, thông qua dự án luật.

Kết quả đạt được thể hiện sự nỗ lực cao, đánh dấu bước tiến mới của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong công tác xây dựng pháp luật, góp phần đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác lập pháp của Quốc hội trong thời gian qua cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế nhất định. Trong hoạt động lập pháp, vẫn còn những lĩnh vực của đời sống xã hội chưa có luật điều chỉnh; còn tình trạng một số luật, pháp lệnh mới được ban hành nhưng chất lượng chưa cao, thiếu tính khả thi, chậm đi vào cuộc sống. Quá trình xây dựng một số luật, pháp lệnh chưa thực sự bám sát nhu cầu cuộc sống, dẫn đến việc phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, làm ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống pháp luật. Quy trình xây dựng luật, pháp lệnh tuy đã được cải tiến, nhưng vẫn chưa đồng bộ và có điểm chưa hợp lý; nhiều nội dung đã được quy định nhưng việc thực hiện có lúc còn chưa nghiêm túc (cụ thể là trong việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm và cả nhiệm kỳ; việc bảo đảm thời gian gửi tài liệu; việc thực hiện trách nhiệm tham gia, phối hợp thẩm tra...), do vậy, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xem xét, thông qua dự án luật. Hoạt động thẩm tra của các ủy ban của Quốc hội đối với một số dự án luật chưa thể hiện tính phản biện cao. Việc bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với một số dự án luật, pháp lệnh và công tác giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thực hiện còn hạn chế. Quy định trong nhiều văn bản luật, pháp lệnh được ban hành vẫn còn trùng lặp hoặc mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản đã được ban hành trước đó, nhiều quy định còn mang tính khung, chưa cụ thể. Quyền trình dự án luật của đại biểu Quốc hội chưa được thực hiện, do thiếu các cơ chế, điều kiện bảo đảm, hỗ trợ cho đại biểu thực hiện quyền của mình.

Những hạn chế, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có các nguyên nhân từ phía Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan của Quốc hội đã được tăng cường, nhưng so với phạm vi, tính chất và yêu cầu của hoạt động lập pháp của Quốc hội thì vẫn chưa thật tương xứng với khối lượng công việc phải đảm nhiệm. Việc phần lớn các thành viên của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm cũng gây khó khăn nhất định cho Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong việc duy trì chế độ làm việc tập thể và quyết định theo đa số về những vấn đề của dự án luật. Việc xây dựng, hoạch định, phân tích, thẩm tra chính sách trong quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện chủ trương “tăng cường năng lực, thẩm quyền, trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong quy trình lập pháp, nhất là việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; hướng tới việc thảo luận, cho ý kiến, hoàn thiện văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội được thực hiện chủ yếu tại các cơ quan của Quốc hội” còn chậm.

Mặt khác, Quốc hội nước ta không hoạt động thường xuyên nên đa số đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm các chức vụ trong bộ máy chính quyền hoặc các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Sự kiêm nhiệm này là cần thiết và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhưng chỉ nên giới hạn ở một mức độ, tỷ lệ phù hợp nhằm ngăn ngừa được sự giao thoa về nhiệm vụ, quyền hạn của người đại biểu, dẫn đến xung đột lợi ích hoặc không đủ điều kiện và chưa toàn tâm toàn ý để tham gia sâu vào công tác lập pháp và thực hiện các nhiệm vụ khác của đại biểu một cách thực sự hiệu quả. Do đó, chưa phát huy được trí tuệ và sự tham gia đông đảo của các đại biểu Quốc hội vào hoạt động xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh. 

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 86 của Hiến pháp, Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ, do đó, tất cả các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội, trong đó có những vấn đề thuộc công tác lập pháp nảy sinh giữa hai kỳ họp đều phải đợi đến kỳ họp tiếp theo của Quốc hội để trình, để thảo luận và quyết định. Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển đất nước luôn biến đổi nhanh chóng, bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi và diễn biến bất ngờ, khó lường, đòi hỏi bộ máy nhà nước phải có phản ứng mau lẹ, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn thì quy định này chưa thực sự bảo đảm tính linh hoạt. 

Do vậy, việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội là việc làm cần thiết, nhằm tiếp tục thể chế hóa cụ thể và sâu sắc hơn đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Một số giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội

Một là, nâng cao chất lượng Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. 

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là những dự kiến mang tính kế hoạch, dù đã được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn thì vẫn không tránh khỏi có những điểm chưa thay đổi kịp so với sự biến đổi trên thực tế, nên cần được điều chỉnh cho phù hợp. Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải phát huy được tính linh hoạt, chủ động, sáng tạo của các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhằm giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh. 

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến cách thức đề xuất sáng kiến xây dựng luật, phát huy hơn nữa vai trò của công dân và các tổ chức trong quá trình sáng kiến pháp luật. Cần quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa cho mọi chủ thể trong xã hội có thể tham gia tích cực vào quá trình đề xuất xây dựng pháp luật. Có như vậy, Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội mới thực sự phản ánh nhu cầu điều chỉnh pháp luật của mọi tầng lớp, cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

Hai là, tăng cường vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự án luật trước khi trình Quốc hội đã phát huy tác dụng tích cực, có ý nghĩa thiết thực, nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội. Ý kiến của các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ sở ban đầu cho việc chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua. Trong nhiệm kỳ tới, cùng với việc khẳng định vị trí của Ủy ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực giữa hai kỳ họp Quốc hội, cần nâng cao hơn nữa vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, làm rõ hơn giá trị pháp lý của việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về nội dung của dự án luật, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 

Ba là, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội đối với các dự án luật, pháp lệnh.

Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội. Trong thời gian tới, do phần lớn đại biểu Quốc hội vẫn hoạt động không chuyên trách, số lượng dự án luật được xem xét, thông qua tại mỗi kỳ họp Quốc hội ngày càng nhiều và đòi hỏi chất lượng ngày càng cao nên việc thẩm tra toàn diện, khoa học, hiệu quả, đúng pháp luật và có chất lượng càng có ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo đảm tiến độ cũng như chất lượng của dự thảo được xem xét, thông qua. Không những thế, trong điều kiện nước ta, tổ chức Quốc hội một viện là một tất yếu khách quan và tất yếu lịch sử, việc nâng cao chất lượng hoạt động thẩm tra là một phương thức thích hợp để bảo đảm chất lượng, hiệu quả của quá trình xây dựng và ban hành luật.

Việc đổi mới phương thức thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội đối với dự án luật, pháp lệnh đòi hỏi tiến hành một số biện pháp cụ thể sau:

- Phân công cơ quan thẩm tra một cách hợp lý, phù hợp tương đối với chuyên môn và đặc biệt là khả năng của cơ quan thẩm tra;

- Tổ chức tốt công tác cung cấp tài liệu, thông tin cho các thành viên Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, thẩm tra;

- Bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số trong hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội;

- Phát huy cao nhất trí tuệ tập thể của các thành viên Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội;

- Tổ chức tốt hơn hoạt động phối hợp thẩm tra giữa Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội.

Bốn là, xây dựng và quy định cụ thể về cơ chế thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh do cơ quan của Quốc hội trình.

Hiện nay, bên cạnh đa số các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, có một số ít dự án luật, pháp lệnh do cơ quan của Quốc hội trình, ví dụ: Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (sửa đổi), Luật Về hoạt động giám sát của Quốc hội,... Việc thẩm tra đối với các dự án luật, pháp lệnh này cần được điều chỉnh bởi những quy định riêng, phù hợp để bảo đảm tính khách quan và chất lượng của hoạt động thẩm tra. Trong quá trình thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cũng cần tập hợp và sử dụng có hiệu quả các chuyên gia ở từng lĩnh vực trong các ngành và các địa phương nhằm giúp cho việc thẩm tra đạt kết quả cao hơn.

Năm là, nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh.

Quốc hội là cơ quan có quyền lập pháp, tuy nhiên, cơ quan chủ trì soạn thảo, đặc biệt là Chính phủ (người chủ trì soạn thảo, trình Quốc hội xem xét, ban hành trên 95% số dự án luật, pháp lệnh) có trách nhiệm thực thi các đạo luật để quản lý xã hội. Việc Chính phủ chủ động tham gia và đóng vai trò quan trọng vào công tác lập pháp có thể tác động một cách tích cực đến hoạt động lập pháp của Quốc hội. 

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sau khi dự án luật được trình Quốc hội thì cơ quan chủ trì soạn thảo không chủ trì việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, mà nhiệm vụ này được giao cho cơ quan chủ trì thẩm tra (Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội) và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Như vậy, kể từ khi dự án luật được trình Quốc hội, cơ quan soạn thảo chỉ giữ vai trò tham gia việc chỉnh lý dự án luật. Điều này tuy có điểm hợp lý nhất định - nhằm ngăn ngừa tính cục bộ của các bộ, ngành trong soạn thảo dự án luật, nhưng lại chưa phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của cơ quan soạn thảo đối với chính sách do mình khởi xướng, bởi lẽ sau khi dự án luật được thông qua, cơ quan soạn thảo cũng sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi các quy định đó. Do vậy, việc tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp thu, chỉnh lý dự án luật theo ý kiến của đại biểu Quốc hội cần được xem xét để có quy định phù hợp.

Sáu là, tăng cường vai trò của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp.

Trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, việc nâng cao chất lượng của đại biểu Quốc hội, đề cao vai trò cá nhân và vị trí trung tâm của đại biểu Quốc hội trong mọi hoạt động của Quốc hội là một xu hướng tất yếu, phù hợp với nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh đó, do đặc thù trong tổ chức và hoạt động đại biểu Quốc hội ở nước ta, đoàn đại biểu Quốc hội cũng có vai trò nhất định trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Để tăng cường vai trò của đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội trong hoạt động tham gia xây dựng pháp luật, cần thực hiện các biện pháp sau:

- Xây dựng cơ chế và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội phát huy quyền sáng kiến lập pháp;

- Tăng cường thêm tài liệu tham khảo ngoài dự thảo luật, pháp lệnh để tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội nghiên cứu, so sánh và phát biểu ý kiến về dự án luật, pháp lệnh;

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật,… cho đại biểu Quốc hội, đồng thời, tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội tự bổ túc kiến thức chuyên ngành, kiến thức pháp luật,…

Bảy là, đổi mới phương thức thảo luận và thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội. 

Hoạt động xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội là hoạt động thể hiện tập trung và rõ nét nhất chức năng lập pháp của Quốc hội. Với việc sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động xem xét, thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội đã có bước đổi mới rõ nét và ngày càng trở nên thiết thực, hiệu quả hơn. Tuy vậy, việc thảo luận, thông qua dự án luật vẫn còn những hạn chế nhất định. Do đó, để nâng cao hiệu quả trong việc thảo luận và chất lượng các dự án luật được thông qua, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới phương thức thảo luận, thông qua dự thảo luật với những nội dung cụ thể sau:

- Làm rõ và thực hiện nghiêm túc nội dung xem xét, thảo luận về dự án luật khi trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu và khi trình Quốc hội thông qua, trong đó, tại lần trình đầu tiên, Quốc hội phải cho ý kiến, biểu quyết khi cần thiết về những vấn đề cơ bản của dự thảo luật để làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức chỉnh lý dự thảo luật; những vấn đề đã được biểu quyết tại lần trình đầu tiên sẽ không cần thiết phải thảo luận lại ở lần trình thứ hai để bảo đảm sự nhất quán trong chính sách và tránh tốn kém về thời gian của Quốc hội;

- Bảo đảm gửi dự thảo luật cho đại biểu Quốc hội trước kỳ họp theo đúng thời gian pháp luật quy định (chậm nhất là 20 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp), để đại biểu Quốc hội có thời gian và điều kiện nghiên cứu, chuẩn bị kỹ về nội dung, đặc biệt là trong điều kiện ngày càng có nhiều dự án luật có nội dung phức tạp với phạm vi điều chỉnh rộng cần được xem xét, thông qua tại kỳ họp Quốc hội;

- Tăng thời gian thảo luận tại hội trường và tại các ủy ban của Quốc hội; đồng thời, giảm dần việc thảo luận theo đoàn, tổ đại biểu Quốc hội trong thời gian diễn ra kỳ họp Quốc hội;

- Xây dựng những tiêu chí cụ thể làm căn cứ cho việc xem xét, đánh giá dự án luật, từ đó, giúp đại biểu Quốc hội thảo luận, thông qua dự án luật có chất lượng hơn, tránh những tranh luận không cần thiết. 

Tám là, xác định rõ mối quan hệ giữa hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. 

Hiện nay, theo quy định tại Điều 20 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước bằng việc ban hành nghị quyết. Trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm tra và xem xét, thông qua nghị quyết của Quốc hội được quy định chung trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Với xu thế chuyển mạnh từ một Quốc hội tham luận, phát biểu nêu vấn đề sang một Quốc hội tranh luận và quyết định chủ yếu theo hình thức luật, cần xác định rõ mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Do đó, cần luật hoá đến mức tối đa những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Đặc biệt, trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến ngân sách nhà nước, thẩm quyền quyết định về ngân sách của Quốc hội cần phải được khẳng định bằng Luật Về ngân sách nhà nước hằng năm./. 

Lê Minh ThôngPGS, TS. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội

Video