Xây dựng nhà nước pháp quyền
Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
19:18' 11/11/2011

TCCS - Sau 5 năm thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, những kết quả đạt được về nhiều mặt đã tạo nên một số tiền đề và điều kiện cần thiết cho những cải cách cơ bản, sâu rộng hơn trong thời gian tới. Cùng với việc đổi mới nhận thức về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), công cuộc cải cách tư pháp cũng bước sang giai đoạn mới, đòi hỏi sự cải cách kiên trì và quyết liệt, nhằm tạo ra những biến đổi về chất trên tất cả các phương diện nhận thức lý luận, thể chế, tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp.      



1 -“Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1) là một trong 5 quan điểm phát triển đã được Đại hội XI của Đảng khẳng định trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”. Quan điểm đó được đúc kết từ những nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn của Đảng ta sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt là trực tiếp từ thực tiễn triển khai các cuộc cải cách kinh tế, cải cách pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong chặng đường 10 năm đầu của thế kỷ XXI. Đây là thập niên với những thành tựu rất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đó cũng là thập niên để lại dấu ấn lịch sử với đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, được bổ sung chính thức trong Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta, lần đầu tiên, đã ban hành và triển khai đồng bộ các bản chiến lược, chương trình cải cách dài hạn trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp(2), nhằm làm cho các kết cấu thượng tầng chính trị - pháp lý của nước ta phù hợp hơn, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển mạnh mẽ của hạ tầng  kinh tế - xã hội.

2 - Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày  2-6-2005, của Bộ Chính trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Cải cách tư pháp được triển khai theo 4 định hướng cơ bản: hoàn thiện thể chế hình sự, dân sự, thủ tục tư pháp; cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ tư pháp mà trung tâm là tòa án và khâu đột phá là tăng cường tranh tụng dân chủ; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. 

Năm năm đầu là một chặng đường còn rất ngắn và có nhiều thách thức đối với việc thực hiện công cuộc cải cách tư pháp mang tầm chiến lược này, nhất là trong bối cảnh từ tư duy, nhận thức, nghiên cứu lý luận, thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ đến cơ chế hoạt động tư pháp còn nhiều bất cập, bất hợp lý nhưng lại chậm được đổi mới, kiện toàn, công tác tư pháp chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân khi bước vào thiên niên kỷ mới, như nhận định của Bộ Chính trị(3). Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo sát sao, có trọng tâm, trọng điểm của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, các ban cán sự đảng, đảng đoàn các cơ quan tư pháp Trung ương và ban chỉ đạo cải cách tư pháp của các tỉnh ủy, thành ủy, cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả ban đầu quan trọng, trong đó, cái được đầu tiên là đã có sự chuyển biến tích cực hơn trong nhận thức của xã hội, của các cấp ủy và chính quyền về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, trật tự, an toàn của đất nước và của mỗi địa phương.

Một kết quả nổi bật, có ý nghĩa tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để triển khai Chiến lược là việc các cơ quan tư pháp đã tham mưu và trình Quốc hội thông qua các đạo luật về hình sự, về tố tụng, về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án, các tổ chức bổ trợ tư pháp, nhằm thể chế hóa đúng đắn các quan điểm, chủ trương cải cách trong các nghị quyết của Đảng. Cụ thể: Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung theo hướng thể chế hóa chính sách hình sự nhân đạo hơn, bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm, hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền; Luật Tố tụng hành chính được xây dựng theo hướng mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính, bảo đảm sự bình đẳng giữa người dân và cơ quan công quyền trước tòa án; Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án hình sự đều hướng tới bảo đảm các bản án, quyết định của tòa án được thi hành nghiêm minh theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục minh bạch, dân chủ, công khai, phù hợp với tính chất của từng loại án, quy định rõ tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thi hành án, cơ quan quản lý thi hành án, thể chế hóa những chủ trương mới trong thi hành án, như thay đổi hình thức thi hành án tử hình, xã hội hóa một số khâu thi hành án dân sự… Đặc biệt, các đạo luật về luật sư, trợ giúp pháp lý, công chứng, trọng tài thương mại… đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển các nghề luật phù hợp với yêu cầu và trình độ của nền kinh tế thị trường trong điều kiện văn hóa - xã hội cụ thể của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp. Có thể nói, sự ra đời và hoạt động của gần 3 nghìn tổ chức luật sư, công chứng, trợ giúp pháp lý, trọng tài và thừa phát lại (dù mới đang trong giai đoạn thí điểm) đã thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng các dịch vụ pháp luật, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thiết thân của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp, đồng thời góp phần hỗ trợ các cơ quan tư pháp tăng cường tính dân chủ, nghiêm minh, công khai và minh bạch trong hoạt động, giảm tải dần công việc, biên chế và chi phí hành chính của các cơ quan nhà nước liên quan, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính.

Mặc dù các đề án về cải cách tổ chức của các cơ quan tư pháp theo định hướng của Chiến lược còn đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng, nhưng trong 5 năm qua, quá trình tăng thẩm quyền cho các tòa án cấp huyện đã được hoàn thành theo nghị quyết của Quốc hội; các cơ quan điều tra, kiểm sát cũng được sắp xếp lại một bước, cùng với việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan tư pháp đã tạo nên những tiền đề quan trọng để triển khai đồng bộ các nội dung cải cách tổ chức ở giai đoạn sau. Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều có bước tiến bộ đáng ghi nhận: giảm đáng kể số vụ phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, hạn chế việc tạm giữ, tạm giam quá hạn; số bị can bị khởi tố, truy tố oan giảm nhiều; việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng việc, đúng thời hạn tăng lên, tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa, bị hủy đều giảm, hạn chế những vụ án có sai lầm nghiêm trọng; tổ chức thi hành nghiêm, kịp thời các bản án, quyết định hình sự của tòa án; hoạt động thi hành án dân sự có bước chuyển biến mạnh mẽ, kết quả thi hành án năm sau liên tục cao hơn năm trước, giải quyết dứt điểm một số vụ việc thi hành án phức tạp, kéo dài; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp được quan tâm thúc đẩy; cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã khởi tố điều tra nhiều vụ án về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đưa ra nhiều kiến nghị yêu cầu cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm. 

Đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, đã có sự trưởng thành về số lượng và chất lượng. Công tác quy hoạch, rà soát, đánh giá, luân chuyển, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp được thực hiện đồng bộ, khá bài bản; kết hợp cải thiện từng bước chế độ, chính sách đãi ngộ với việc xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với các sai phạm của cán bộ, công chức tư pháp. Việc đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào quá trình chuẩn hóa từng bước đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên cũng như những người hành nghề luật sư, công chứng cả về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ.

Tóm lại, sau 5 năm đầu thực hiện Chiến lược, tuy hoạt động cải cách chưa thật sự đi sâu vào khâu trung tâm của hệ thống tư pháp với các giải pháp đột phá, cơ bản, nhưng những kết quả đạt được về mặt thể chế, về tổ chức và hoạt động của các khâu bổ trợ tư pháp, thi hành án, về tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, cũng đã tạo nên một số tiền đề và điều kiện cần thiết cho những cải cách cơ bản, sâu rộng hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, như Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã nhận định: Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ, đặt trong yếu kém chung của 10 năm qua là việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý nhà nước, năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật đều còn yếu(4). Nguyên nhân của sự chậm trễ, thiếu đồng bộ trong cải cách tư pháp đã được Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương phân tích sâu sắc, trong đó, nguyên nhân đầu tiên chính là sự nhận thức chưa thực sự đúng mức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cơ quan ở Trung ương, cấp ủy và chính quyền địa phương về vị trí, tầm quan trọng của công tác tư pháp và cải cách tư pháp; việc nghiên cứu lý luận cơ bản về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp trong cơ chế tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được quan tâm đúng mức, tiến hành chưa bài bản, kết quả chưa thấu đáo; việc tổng kết thực tiễn tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp chưa thực hiện thường xuyên, chưa có những đánh giá đầy đủ, khách quan về tác động kinh tế - xã hội của hoạt động tư pháp và cải cách tư pháp… Do đó, một số phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp, tuy đã được xác định trong Nghị quyết số
49-NQ/TW nhưng vẫn chưa được nhận thức đúng đắn và thống nhất, nên triển khai trên thực tế còn chậm, thiếu đồng bộ, thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan liên quan, chưa tạo được sự quan tâm, đồng thuận, tin tưởng trong xã hội đối với cải cách tư pháp.

3 - Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một thành tố, một đặc trưng của xã hội XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà nhân dân ta xây dựng và hướng tới như đã được ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).  Để đạt được mục tiêu đó, Cương lĩnh xác định 8 phương hướng cơ bản, trong đó xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải được tiến hành đồng thời dựa trên việc giải quyết tốt các mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ...

Cụ thể hóa các phương hướng đó trong giai đoạn 2011 - 2020, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng định phải kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới; đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, với 4 trụ cột: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Mọi quá trình đổi mới và phát triển đều phải lấy việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh” làm tiêu chuẩn cao nhất, thước đo đúng đắn nhất để đánh giá hiệu quả(5).

Với quan điểm và cách tiếp cận như trên, để bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền phải thực hiện tốt chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch và các công cụ điều tiết vĩ mô trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; xây dựng đồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống pháp luật với khâu
đột phá là thể chế kinh tế thị trường và thể chế bộ máy nhà nước, bảo đảm có đủ các đạo luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng, hội nhập quốc tế, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý và điều kiện thực tế để phát huy dân chủ, nâng cao vai trò của xã hội (các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức nghề…) và của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường cũng như trong việc tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát việc thực thi pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tiến tới thực thi nguyên tắc công dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

Thứ ba, bộ máy nhà nước pháp quyền phải được hoàn thiện theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp, đổi mới tư duy và quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch; xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; thiết lập hệ thống tư pháp độc lập, trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; tăng cường kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động và quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ, thực hiện nguyên tắc cơ quan, công chức nhà nước chỉ làm những gì pháp luật cho phép khi thi hành công vụ, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN; nâng tầm lý luận và tổng kết thực tiễn về vị trí, vai trò của đảng cầm quyền trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời đại mới, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như tổ chức, hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên được thực hiện bằng và trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

4 - Cùng với việc đổi mới nhận thức về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, công cuộc cải cách tư pháp cũng bước sang giai đoạn mới có tính quyết định đối với sự thành công của Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, đòi hỏi sự cải cách kiên trì và quyết liệt, nhằm tạo ra những biến đổi về chất trên tất cả các phương diện nhận thức lý luận, thể chế, tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp.

Trước tiên, về mặt lý luận, cần định danh rõ quyền tư pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nguyên tắc đặc thù về tổ chức và hoạt động thực  hiện quyền tư pháp trong cơ chế tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền.

Để  thực thi nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định, điều quan trọng đầu tiên, có tính chất khai thông về lý luận, là cần nhận diện rõ thế nào là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, cũng như xác định rõ cơ quan nào là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, cơ quan nào thực hiện quyền hành pháp, cơ quan nào thực hiện quyền tư pháp, cùng các nguyên tắc đặc thù về tổ chức và hoạt động thực thi mỗi nhánh quyền lực. Thực tiễn xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật thời gian qua cho thấy, do chưa làm rõ được về mặt lý luận, nên trong thiết kế tổ chức bộ máy nhà nước có những nhiệm vụ, quyền hạn của nhánh quyền lực này lại được giao cho cơ quan thuộc nhánh quyền lực khác thực hiện, không phù hợp về bản chất và đặc thù của mỗi nhánh quyền lực, dẫn đến sự lúng túng trong hoạt động chung của Nhà nước. Ví dụ, chúng ta đang phải từng bước “trả về đúng vị trí” quyền hạn, nhiệm vụ của tòa án xét xử các vụ án hành chính mà không phụ thuộc vào việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính, góp phần thực thi đúng đắn hơn, đầy đủ hơn mối quan hệ phân công và kiểm soát giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Những vấn đề vướng mắc về lý luận làm chậm tiến độ triển khai một số định hướng trong Chiến lược Cải cách tư pháp thời gian qua cần được tổ chức nghiên cứu thấu đáo hơn, mang tính hệ thống hơn, như làm rõ mối liên hệ bản chất quy định vị trí của quyền công tố trong nhánh quyền lực hành pháp hay quyền lực tư pháp; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp để bảo đảm thực thi nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án hay nguyên tắc mọi vi phạm Hiến pháp đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, để Hiến pháp thực sự có vị trí tối thượng trong Nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, về mặt thể chế, cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và hoàn thiện pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng và pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp, các tổ chức bổ trợ tư pháp theo đúng các định hướng của Chiến lược Cải cách tư pháp.

Bằng việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, cần hiến định địa vị pháp lý, chức năng, quyền hạn của cơ quan thực hiện quyền lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (tòa án); cụ thể hóa cơ chế bảo đảm sự phân công rành mạch, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện các quyền  này trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, và đây cũng là điều kiện cần để xây dựng cơ chế kiểm soát, phát hiện, xử lý các vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Trên cơ sở Hiến pháp, các đề án về tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, tổ chức viện kiểm sát phù hợp với tổ chức tòa án, nghiên cứu chuyển viện kiểm sát thành viện công tố, tổ chức lại hệ thống cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối; đề án về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam với yêu cầu tăng cường tranh tụng tại phiên tòa… đã và đang được nghiên cứu phải được thể chế hóa đồng bộ trong các luật về tố tụng và luật tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm tính độc lập, khách quan, dân chủ, tuân thủ pháp luật của hệ thống tư pháp, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Sau Hiến pháp, các đạo luật trụ cột của hệ thống pháp luật, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính… cũng sẽ được tiếp tục hoàn thiện, nhằm giải quyết một cách cơ bản hơn các nhu cầu mới đặt ra từ sự phát triển mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, ví dụ như vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, vấn đề tư pháp hóa các quá trình xử lý và ra quyết định xử lý hành chính hạn chế quyền tự do của công dân…

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn của giai đoạn đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về luật sư, công chứng, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp, thừa phát lại theo hướng mở rộng phạm vi xã hội hóa, tạo cơ chế thu hút những người có đủ điều kiện tham gia hành nghề; khắc phục những bất cập, sơ hở trong quy định về trình tự, thủ tục hoạt động nghề nghiệp, về tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm các chức danh bổ trợ tư pháp, đề cao trách nhiệm đạo đức trong  hoạt động nghề, tăng cường vai trò tự quản của  các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động nghề nghiệp. Những đề án mang tính chất thí điểm trong phạm vi giới hạn về không gian và thời gian, như đề án tổ chức thừa phát lại hay đề án xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp cần được tổng kết, đánh giá sâu sắc, khoa học về những tác động kinh tế - xã hội, các điều kiện cần và đủ để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả khi triển khai ở diện rộng.

Mục tiêu cần đạt được là đến hết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011 - 2016), tất cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp đều phải có luật điều chỉnh, bảo đảm nguyên tắc mọi quyền tự do cơ bản của công dân phải được bảo đảm bằng Hiến pháp và luật, mọi hoạt động của công quyền can thiệp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự đều phải bị giới hạn bằng Hiến pháp và luật.

Ba là, đổi mới cơ bản nội dung, phương thức, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ tư pháp, đặc biệt là cán bộ có chức danh tư pháp, coi đây là một khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực tư pháp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hoàn thiện để sớm trình thông qua và triển khai thực hiện Đề án xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật ngang tầm với khu vực, góp phần tạo nguồn nhân lực pháp luật hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN. Đặc biệt, cần khẩn trương hoàn thiện thể chế và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, đội ngũ giảng viên để xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn ở tầm quốc gia về đào tạo cán bộ tư pháp theo đúng tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từng bước đổi mới cơ bản chính sách, phương thức đào tạo, bồi dưỡng, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ tư pháp, áp dụng cơ chế thi tuyển quốc gia trong đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, thực hiện đào tạo chung nguồn bổ nhiệm các chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư nhằm tạo ra sự biến đổi về chất nguồn nhân lực trụ cột của cải cách tư pháp. Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa nhằm thu hút nguồn lực và trách nhiệm của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (luật sư, công chứng, trọng tài…) cho việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng của đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế.

Các định hướng, giải pháp trên đây cùng với việc tăng cường đầu tư ngân sách, củng cố và hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đặc thù của các cơ quan tư pháp, tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử và sự giám sát trực tiếp của nhân dân; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp trong tình hình mới sẽ thúc đẩy công cuộc cải cách  tư pháp ở nước ta trong thập niên tới vượt qua những thách thức, để cùng nhịp bước và phục vụ đắc lực hơn, hiệu quả hơn Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để nền tư pháp nhân dân của chúng ta ngày một gần dân hơn, giúp dân được nhiều hơn, được dân tin cậy hơn, thật sự xứng đáng là biểu tượng của công lý và pháp quyền trong xã hội XHCN./.

-------------------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 99

(2) Xem: “Chiến  lược Xây dựng và Hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” ban hành theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, của Bộ Chính trị; “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” ban hành theo Nghị quyết số
49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, của Bộ Chính trị; và “Chương trình tổng thể Cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010” ban hành theo Quyết định số 136/2001
QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

(3)Xem: Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 2-1-2002, của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”

(4), (5) Xem: Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 171 - 172, 99 - 100

Hà Hùng CườngPGS, TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp

VIDEO