Chủ Nhật, 21/10/2018
Thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng gắn với triển khai có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
14/1/2013 17:48' Gửi bài này In bài này

1 - Cùng với xu thế toàn cầu hóa, tham nhũng ngày càng lan rộng và trở thành vấn đề lớn, đe dọa nghiêm trọng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, ngày 4-12-2001, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 55/61, thành lập Ủy ban Soạn thảo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước). Việt Nam đã cử Đoàn đàm phán liên ngành tham dự và có những đóng góp trong quá trình thảo luận và xây dựng dự thảo Công ước.

Từ ngày 9 đến ngày 11-12-2003, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị ký chính thức Công ước (tại Mê-hi-cô) và đã ký Công ước cùng đại diện của 95 quốc gia khác, đồng thời nộp văn kiện bảo lưu về thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc cho cơ quan lưu chiểu Công ước này (khoản 2, Điều 66).

Công ước là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng, bao gồm những quy định tương đối toàn diện về phòng, chống tham nhũng và hợp tác giữa các quốc gia trong phòng, chống tham nhũng. Các quy định của Công ước phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Công ước gồm 8 Chương và 71 Điều. Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu pháp luật quốc tế, trừ một số quy định mang tính hướng dẫn thủ tục (từ Điều 63 đến 71), Công ước có 237 quy định, trong đó 135 quy định mang tính bắt buộc (các quốc gia thành viên phải thực hiện trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc hiến pháp và pháp luật quốc gia), 38 quy định mang tính khuyến nghị và 64 quy định mang tính tùy nghi (các quốc gia thành viên không bắt buộc phải thực hiện).

Theo nghiên cứu đối chiếu, so sánh cho thấy, mục tiêu của Công ước không trái với nguyên tắc Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và đường lối, chính sách của Đảng ta. Pháp luật của Việt Nam về cơ bản đã phù hợp với nội dung Công ước và đáp ứng được 135/135 quy định mang tính bắt buộc; 61/64 quy định mang tính tùy nghi; 37/38 quy định mang tính khuyến nghị của Công ước. Riêng quy định tại khoản 2, Điều 66 về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên trong việc giải thích hay áp dụng Công ước, cho phép các quốc gia quyền bảo lưu, nếu không thừa nhận áp dụng thủ tục này (khoản 3, Điều 66 Công ước).

Về một số quy định khá nhạy cảm của Công ước, như 1-Quy định về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20); hành vi tham nhũng, hối lộ trong khu vực tư (Điều 21); trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26); áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt (Điều 50) là những quy định mang tính tùy nghi, chưa được pháp luật Việt Nam quy định, nhưng không bắt buộc phải thực hiện; 2- Quy định về điều tra chung (Điều 49); quy định về việc thành lập cơ quan tình báo tài chính (Điều 58) là những quy định mang tính tùy nghi, không bắt buộc phải thực hiện, pháp luật Việt Nam đã đáp ứng một phần; 3- Quy định về công khai, minh bạch tài chính công (Điều 10); phòng, chống rửa tiền (Điều 14); bảo vệ nhân chứng, chuyên gia và nạn nhân (Điều 32); dẫn độ (Điều 44); hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng (từ Điều 51 đến 59); giám sát tài khoản của những người đã và đang giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước (Điều 52) là những quy định bắt buộc, pháp luật Việt Nam đã đáp ứng về cơ bản.

2 - Những thuận lợi và khó khăn cơ bản khi Việt Nam phê chuẩn và thực hiện Công ước. Về những thuận lợi cơ bản.

Trước hết Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và không ngừng hoàn thiện nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở chính trị -pháp lý cho việc hình thành cơ chế phòng, chống tham nhũng toàn diện, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia phòng, chống tham nhũng.

Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được quy định tại Điều 4 Công ước không cho phép thiết lập bất kỳ cơ chế giám sát, thanh sát nào đối với mỗi quốc gia thành viên mà chỉ trợ giúp và khuyến khích các quốc gia chống tham nhũng vì lợi ích phát triển của mỗi nước. Công ước đề cao tính chủ động và tự nguyện trong chia sẻ thông tin và đóng góp tài chính của các quốc gia thành viên. Nghĩa vụ trực tiếp của quốc gia thành viên là tham dự Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước và cung cấp thông tin về phòng, chống tham nhũng của nước mình qua các báo cáo quốc gia hằng năm, được xây dựng theo phương thức tự đánh giá.

Thứ ba, các quy định của Công ước chủ yếu mang tính khuyến nghị. Tuy số lượng các quy định mang tính bắt buộc là 135/237 quy định, nhưng về nội dung, hầu hết những quy định này chỉ là sự khái quát những biện pháp phòng, chống tham nhũng mà các quốc gia, trong đó có Việt Nam đã thực hiện khi chưa có Công ước. Bên cạnh đó, việc áp dụng và thực hiện Công ước cũng có điểm thuận lợi là cho phép quốc gia thành viên có thể không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước.

Để thực thi Công ước, mỗi quốc gia có thể bổ sung, sửa đổi hay xây dựng mới các quy định pháp luật của mình trên cơ sở nguyên tắc hiến pháp và pháp luật của quốc gia. Đồng thời, Công ước khuyến khích các quốc gia đàm phán, ký kết các thỏa thuận tương trợ tư pháp song phương hoặc đa phương để thực thi Công ước sau khi phê chuẩn (Điều 59). Trong quan hệ tương trợ tư pháp với nước khác, Công ước cho phép các quốc gia vận dụng các quy định mang tính “khóa an toàn” của Công ước để từ chối hoặc tạm hoãn thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp (khoản 21, Điều 46).

Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu của các nhà nghiên cứu pháp luật quốc tế ở nước ta, quá trình thực hiện Công ước ở Việt Nam có thể gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định cần khắc phục.

Thứ nhất, tuy đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của Công ước, nhưng pháp luật Việt Nam và các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước còn thiếu cụ thể, chưa đồng bộ. Quá trình đàm phán, ký kết mới hay bổ sung, sửa đổi các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước; quá trình nghiên cứu, xây dựng mới hay sửa đổi các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, bảo đảm lợi ích quốc gia và sự đồng bộ với quy định của các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia là những việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm, thời gian, nhân lực, tài chính và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Thứ hai, điều kiện vật chất, kỹ thuật và kinh nghiệm hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam còn hạn chế. Rào cản về ngôn ngữ, việc thiếu kỹ năng, kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế; việc tiếp cận các thể chế chính trị và pháp lý khác biệt sẽ là những trở ngại, thách thức đối với cán bộ, công chức của Việt Nam khi tham gia hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng.

Thứ ba, nhận thức và việc thực thi Công ước trong cán bộ, công chức và trong nhân dân nhìn chung còn bất cập do công tác nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến về Công ước thời gian qua còn hạn chế.

Công ước là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm, tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác trong phòng, chống tham nhũng. Nội dung của Công ước về cơ bản phù hợp với những nguyên tắc căn bản của pháp luật quốc tế, trong đó có nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, phù hợp với tinh thần và nội dung của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Việt Nam đã ký tháng 12-2000; không trái với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng. Việc ký kết và phê chuẩn Công ước thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

3 -Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và đề xuất của Chính phủ, ngày 30-6-2009, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước về chống tham nhũng. Khi gửi văn bản lưu chiểu quyết định phê chuẩn Công ước, Việt Nam tuyên bố một số nội dung về thực thi Công ước, theo đó, nhất quán với nội dung bảo lưu khi ký Công ước, Việt Nam tuyên bố bảo lưu về thủ tục giải quyết tranh chấp quy định tại khoản 2, Điều 66 của Công ước; không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20) và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân (Điều 26); không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước; việc thực hiện các quy định của Công ước sẽ theo nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương với nước khác và nguyên tắc có đi có lại. Cùng đó, căn cứ Điều 44 của Công ước, Việt Nam tuyên bố không coi Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp về dẫn độ; Việt Nam thực hiện dẫn độ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ và nguyên tắc có đi có lại. Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 19-8-2009.

Như vậy, có thể thấy quá trình đàm phán xây dựng, ký và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng có ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, việc phê chuẩn Công ước của Việt Nam là khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong phòng, chống tham nhũng “nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Thứ hai, trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc tham gia đầy đủ và bình đẳng vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu đầu tiên và toàn diện nhất về chống tham nhũng là thể hiện thiện chí hợp tác, vai trò tích cực, chủ động của Việt Nam và thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong giải quyết vấn đề toàn cầu; góp phần nâng cao uy tín, vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế. Thứ ba, Công ước tạo cơ hội để Việt Nam tranh thủ sự giúp đỡ của đông đảo các quốc gia thành viên về kinh nghiệm, trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ, hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng.

Trên bình diện pháp lý, nhiều quy định của Công ước có nội dung tiến bộ, có thể nghiên cứu, tiếp thu để bổ sung, hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong tương lai, như xây dựng và đánh giá định kỳ các công cụ pháp lý phòng, chống tham nhũng; xây dựng các quy tắc xử sự để bảo đảm cho cán bộ, công chức thực hiện chức năng công chính xác, trung thực; áp dụng các biện pháp lập pháp và hành chính nhằm đưa ra những tiêu chuẩn về ứng cử và bầu các chức vụ công; xây dựng các nguyên tắc bảo đảm minh bạch trong quản lý, sử dụng tài chính công; áp dụng các công cụ đo lường và đánh giá tham nhũng;... Sau khi phê chuẩn Công ước, việc thực thi Công ước sẽ tác động tích cực, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; phát huy tốt hơn quyền tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động quản lý nhà nước và phòng, chống tham nhũng; góp phần xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch; phòng ngừa và loại bỏ các yếu tố phát sinh tham nhũng trong bản thân doanh nghiệp và trong mối liên hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước; tiếp thu kinh nghiệm, thông tin, tài chính của nước ngoài trong hợp tác phòng, chống tham nhũng; được thực hiện các quyền của quốc gia thành viên Công ước như quyền yêu cầu các quốc gia thành viên khác tương trợ tư pháp.

4 -Trên cơ sở quyết định phê chuẩn của Chủ tịch nước và thực hiện đồng bộ với Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, ngày 7-4-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng ban hành kèm theo Quyết định số 445/QĐ-TTg.

Kế hoạch thực hiện Công ước xác định ba giai đoạn chủ yếu từ năm 2010 đến 2020 nhằm triển khai các công tác nội luật hóa các quy định của Công ước, làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực hiện các giải pháp về phòng, chống tham nhũng. Kế hoạch thực hiện Công ước cũng xác định quá trình thực thi Công ước phải gắn với Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, bao gồm các mục tiêu, giải pháp toàn diện có liên quan đến việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị. Theo đó, các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các cơ quan báo chí cùng toàn thể nhân dân tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kế hoạch theo các nội dung mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo. Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, các nghị quyết, chỉ thị chuyên đề được ban hành nhằm định hướng cho công tác phòng, chống tham nhũng, như Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 15-5-1996, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; các văn kiện đại hội X, XI của Đảng, các nghị quyết, kết luận của các hội nghị trung ương. Từ đó, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần phát triển ổn định kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.

5 - Qua thực tiễn 5 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi năm 2007), công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế phục vụ công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, nhất là thể chế liên quan đến phòng, chống tham nhũng được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm thực hiện. Theo đó, Quốc hội đã ban hành, sửa đổi, bổ sung khoảng 20 luật, nghị quyết; Chính phủ ban hành gần 300 nghị định, nghị quyết, nghị quyết liên tịch; Thủ tướng Chính phủ ban hành 526 quyết định để quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế cụ thể về phòng, chống tham nhũng; các bộ, ngành ban hành gần 700 thông tư, thông tư liên tịch quy định, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật trên các lĩnh vực, nhất là quản lý nhà nước dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như đất đai, tài chính, đầu tư xây dựng, sử dụng vốn ODA, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quản lý cán bộ, công chức,... Các địa phương cũng ban hành mới gần 2.000 văn bản nhằm cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện các chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng,... Nhìn chung, công tác xây dựng thể chế về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh, tạo cơ sở pháp lý cụ thể hơn để thực hiện có hiệu quả những giải pháp phòng, chống tham nhũng. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực được bổ sung, hoàn thiện đã tăng cường tính đồng bộ, chặt chẽ của hệ thống pháp luật, góp phần tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Thời gian gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục có những chuyển biến tích cực; các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, như công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; minh bạch tài sản, thu nhập,... tiếp tục được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện nhằm phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra và thực tiễn đang nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi tiếp tục tăng cường phòng, chống tệ nạn này. (1)

Hội nghị Trung ương 5 khoá XI đã kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X, trong đó nhấn mạnh “Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), chú trọng cả phòng và chống; cả phòng, chống tham nhũng và phòng, chống lãng phí, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém để tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác này”.

Theo đó, triển khai đồng bộ, toàn diện các biện pháp, nhiệm vụ nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức kỷ cương, liêm chính. Cụ thể là, thực hiện 10 chủ trương, giải pháp lớn nhằm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, dựa trên quan điểm Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác này; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự. Với phương châm phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm; kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài.

Hội nghị Trung ương 5 khóa XI tiếp tục chỉ đạo thực hiện 6 giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có giải pháp đổi mới, nâng cao năng lực của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và cơ quan thường trực, tham mưu về công tác phòng, chống tham nhũng. Cụ thể là, ở Trung ương, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban; thành lập lại Ban Nội chính Trung ương với chức năng là cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính; đồng thời, là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

6 -Để tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các cơ quan chức năng cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, triển khai thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm theo nội dung Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22-10-2010, của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; các văn kiện chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020.

Hai là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, trong đó có triển khai thực hiện Kế hoạch thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Để thực hiện nhiệm vụ này, các cơ quan chức năng cần sớm tiến hành đánh giá, tổng kết giai đoạn 1 việc thực hiện Kế hoạch thực thi Công ước; rà soát các chương trình, đề án, kế hoạch sẽ triển khai ở giai đoạn 2 của Kế hoạch thực thi Công ước (giai đoạn 2011 - 2016), trong đó tập trung vào các giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế, các thiết chế, cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm chỉ đạo, lãnh đạo, giám sát, kiểm tra, đôn đốc, động viên sự tham gia của các cấp, các ngành và tổ chức, cá nhân trong các hoạt động cụ thể trong công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, thực thi Công ước của Liên hợp quốc nói riêng, nhất là lưu ý chức năng, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ở Trung ương mới được kiện toàn theo quyết định của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm về tham nhũng nói riêng, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế, pháp luật trong nước về phòng, chống tội phạm và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế - xã hội; đóng góp vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, chú trọng việc tăng cường ký kết, đàm phán các điều ước quốc tế song phương và đa phương phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế của Nhà nước ta trong phê chuẩn và thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, đặc biệt là các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, hợp tác tịch thu, thu hồi tài sản do phạm tội mà có, tài sản có được do tham nhũng.

Bốn là, có chính sách huy động, bảo đảm và điều phối hợp lý các nguồn lực để thực hiện có hiệu quả các chính sách, chiến lược, chương trình quốc gia, kế hoạch trọng điểm đã đề ra; chú trọng thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện các điều ước quốc tế nói chung, công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng nói riêng, kết hợp với việc bảo đảm điều kiện vật chất, trang thiết bị và chế độ chính sách; chính sách đãi ngộ, khuyến khích, động viên thỏa đáng, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, công chức nâng cao hiệu quả công tác./.

---------------------------------------

(1) Kết luận số 21-KL/TW, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Nguyễn Ngọc AnhThiếu tướng, GS, TS, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công an, thành viên Đoàn đàm phán liên ngành Việt Nam tham dự các phiên họp đàm phán, xây dựng dự thảo Công ước

Video