Thứ Hai, 16/9/2019
Tạo động lực phát triển mới cho Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
6/9/2016 22:19' Gửi bài này In bài này

Bước phát triển mới của Vùng Kinh tế trọng điểm

Vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố, diện tích tự nhiên khoảng 40.000km2 (trong đó có 84% là diện tích đất nông nghiệp), dân số trên 17,4 triệu người (trong đó có khoảng 60% trong độ tuổi lao động). Đây là vùng sản xuất lương thực trọng điểm của quốc gia; có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi, thủy sản với quy mô lớn, nhất là nuôi trồng thủy sản ven biển, trên sông; có các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao. Hằng năm, toàn vùng sản xuất hơn 55% sản lượng lúa hàng hóa, 69% sản lượng thủy sản, 70% sản lượng trái cây của cả nước; đóng góp hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu cả nước. Ngoài ra, xét về vị trí địa lý, đồng bằng sông Cửu Long nằm liền kề với Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và gần các nước Đông Nam Á, có bờ biển dài hơn 700km với khoảng 360 nghìn km2 vùng kinh tế đặc quyền, có gần 200 đảo và quần đảo, có nhiều lợi thế để trở thành một vùng kinh tế năng động, một động lực phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nhằm tạo ra động lực mới thúc đẩy toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh và bền vững, ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 492/QĐ-TTg thành lập Vùng Kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau, có diện tích tự nhiên hơn 1.786 nghìn ha, dân số trên 6,5 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của vùng. Vùng Kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long được xác định là vùng trọng điểm về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, trái cây, đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long; góp phần quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông, thủy sản cả nước. Đồng thời, đây còn là trung tâm năng lượng, trung tâm dịch vụ - du lịch lớn của cả nước; là cầu nối trong hội nhập kinh tế khu vực; giữ vai trò quan trọng về quốc phòng - an ninh và đối ngoại của đất nước. Đến ngày 12-2-2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 245/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, mục tiêu tổng quát được xác định là: “Xây dựng Vùng Kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc”.

Trên cơ sở pháp lý đó, với sự tăng cường đầu tư, hỗ trợ của Trung ương và nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương, trong giai đoạn 2011 - 2015, tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành trong Vùng kinh tế trọng điểm (gọi tắt là Vùng kinh tế trọng điểm) vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có những chuyển biến khả quan:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng Kinh tế trọng điểm được duy trì ở mức khá so với bình quân chung của cả nước và của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tổng GDP trong giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt khoảng 1.305.829 tỷ đồng; trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố Cần Thơ là 12,22%, Kiên Giang: 10,53%, An Giang: 8,63%, Cà Mau: 8,3%; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 51,03 triệu đồng (mục tiêu đề ra là 51 triệu đồng). Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của 4 tỉnh, thành trong Vùng Kinh tế trọng điểm chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ có chiều hướng tăng mạnh.

Nông nghiệp phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng của nền kinh tế, từng bước hình thành các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo tiền đề để cơ cấu lại nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Trong 5 năm qua, Vùng Kinh tế trọng điểm sản xuất ước đạt 51 triệu tấn lúa, 7,7 triệu tấn hải sản, phát triển mạnh công nghiệp chế biến thủy hải sản (tập trung nuôi và chế biến cá tra, tôm phục vụ xuất khẩu), trở thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo, thủy sản lớn của vùng và cả nước.

Thương mại - dịch vụ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng cao trong GDP, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ước đạt 12,82%. Trong đó, lĩnh vực thương mại phát triển khá nhanh, đa dạng với nhiều loại hình, hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại được các địa phương quan tâm đầu tư, có tính chất chi phối, tác động đến các lĩnh vực khác và hỗ trợ, thúc đẩy các địa phương trong Vùng Kinh tế trọng điểm cùng phát triển. Các địa phương ngày càng chú trọng hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch; ngành du lịch các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và thành phố Cần Thơ đã triển khai thực hiện Chương trình hợp tác phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, hình thành “Tứ giác du lịch” góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành du lịch toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Kết cấu hạ tầng kinh tế có bước phát triển, tạo ra sự kết nối giữa các địa phương trong Vùng Kinh tế trọng điểm với nhau và với các địa phương khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh một số công trình giao thông quan trọng có tính kết nối liên tỉnh, liên vùng được ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp, đưa vào sử dụng; nhiều khu kinh tế đã và đang hình thành trong Vùng Kinh tế trọng điểm. Đó là: Khu kinh tế Phú Quốc - Kiên Giang; Khu kinh tế ven biển Năm Căn - Cà Mau; các khu kinh tế, cửa khẩu biên giới Hà Tiên - Kiên Giang, Bình Khánh - An Giang;… Trong đó, Phú Quốc - Kiên Giang đang trong quá trình tập trung đầu tư xây dựng để vươn lên trở thành đặc khu kinh tế, trở thành một trung tâm phát triển thương mại - du lịch của vùng và cả nước.

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện, môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng hơn, tạo thuận lợi cho các nhà doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư, kinh doanh. Năm 2015, ngoại trừ tỉnh Cà Mau xếp hạng 59/63 tỉnh, thành (mức xếp hạng: tương đối thấp), còn lại thành phố Cần Thơ xếp hạng 14/63, tỉnh An Giang hạng 39/63 (đều ở mức khá), riêng tỉnh Kiên Giang xếp hạng 11/63 (mức tốt).

Công tác an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, thấp hơn so với bình quân chung của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 4 tỉnh, thành Vùng Kinh tế trọng điểm khoảng 8,06%; đến cuối năm 2015 ước còn khoảng 2,62%. Trong đó, thành phố Cần Thơ giảm còn 1,84%, An Giang: 2,5%, Kiên Giang: 2,73%, Cà Mau: 3,4%.

Chưa thực sự trở thành “đầu tàu”

Nhìn chung, trong giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế - xã hội Vùng Kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục phát triển, phát huy được nhiều tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và toàn vùng, tạo ra những tiền đề quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, theo nhận định của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Vùng Kinh tế trọng điểm này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, chưa bảo đảm khả năng phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới. Đó là:

- Kết cấu và quy mô nền kinh tế của vùng còn nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết. Trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế trong Vùng Kinh tế trọng điểm chuyển dịch theo hướng tăng mạnh khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng những năm gần đây có xu hướng chững lại.

- Công tác quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch có mặt chưa tốt; chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chưa cao; nguồn thu ngân sách của các tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu chi (ngoại trừ thành phố Cần Thơ).

- Chưa xác định rõ sản phẩm chủ lực của ngành công nghiệp mũi nhọn để đầu tư đúng mức; môi trường và cơ chế chính sách đầu tư chưa thực sự hấp dẫn để thu hút đầu tư, nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn rất thấp so với nhiều vùng kinh tế khác trong nước.

- Tiến trình xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao, xuất khẩu nông sản còn nhiều khó khăn, phần lớn các địa phương chưa thực hiện tốt việc gắn kết chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu cho các lọai nông sản hàng hóa chủ lực.

- Kết cấu hạ tầng trên một số lĩnh vực còn yếu và thiếu đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi; nhiều dự án lớn không có khả năng triển khai nhưng chậm được thu hồi, gây nhiều khó khăn trong sản xuất, sinh hoạt của người dân.

- Nhiều sản phẩm dịch vụ, du lịch của các địa phương trong Vùng Kinh tế trọng điểm còn đơn điệu, trùng lắp, chất lượng kém.

- Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân, chất lượng nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ vào đời sống còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa tạo được động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Vùng Kinh tế trọng điểm và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Những hạn chế, bất cập nêu trên làm cho kinh tế - xã hội Vùng Kinh tế trọng điểm tuy tiếp tục phát triển nhưng thiếu tính bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, chưa làm cho Vùng Kinh tế trọng điểm trở thành “đầu tàu” tạo ra sự lan tỏa, thúc đẩy các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh, bền vững. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng chung từ suy thoái kinh tế toàn cầu; tác động của biến đổi khí hậu; xuất phát điểm thấp về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội;… thì chủ yếu vẫn là những nguyên nhân chủ quan. Cụ thể là: Việc xác định và nhận thức về vị trí, vai trò của Vùng Kinh tế trọng điểm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ, dẫn đến những hạn chế trong công tác lãnh đạo, điều hành thực hiện những mục tiêu đã đề ra; công tác quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các ngành kinh tế mũi nhọn của các địa phương trong vùng chưa được chú trọng đúng mức, chưa phát huy được vai trò là vùng trọng điểm sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông thủy sản hàng hóa, là trung tâm dịch vụ, du lịch của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long; nhiều nguồn lực đầu tư cho phát triển chưa được khai thác tốt do thiếu tính liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh, thành trong vùng; các địa phương còn thiếu tầm nhìn chiến lược, chưa bảo đảm tính khoa học, chưa chú trọng công tác dự báo trong xây dựng, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; việc triển khai nhiều dự án lớn mang tính liên tỉnh, liên vùng còn chậm, chưa đồng bộ; kinh tế hợp tác có phát triển nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, việc xây dựng các hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp triển khai chậm;…

Những giải pháp đồng bộ để tạo ra động lực phát triển mới

Để Vùng Kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, Quyết định số 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra đề ra các chỉ tiêu kinh tế cơ bản phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 là:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 10,5%/năm, đến năm 2020 GDP bình quân đầu người khoảng 4.400 USD; lĩnh vực nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng 4,8-5,2%/năm, giá trị sản phẩm bình quân trên đất trồng trọt đạt 140-150 triệu đồng/ha/năm, giá trị nuôi trồng thủy sản bình quân đạt 260-270 đồng/ha/năm; lĩnh vực công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm, tập trung phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh như công nghiệp chế biến các sản phẩm nông - lâm - thủy sản hướng đến xuất khẩu, công nghiệp năng lượng, công nghiệp sinh khối; lĩnh vực thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 17,1%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng 13,5%/năm; đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%, tạo việc làm cho 17-17,5 vạn lao động.

Định hướng phát triển đến năm 2030 được xác định: Vùng Kinh tế trọng điểm là vùng có trình độ phát triển khá cao, khoa học - công nghệ sẽ trở thành một trong những động lực chính phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 9.300 USD; đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong vùng được nâng cao, xã hội đồng thuận, an toàn, thanh bình, cộng đồng gắn kết hài hòa và thân thiện, an ninh chính trị được giữ vững, quốc phòng được bảo đảm.

Để đạt được những chỉ tiêu, định hướng đã đề ra, trong giai đoạn 2016 - 2020, các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố trong Vùng Kinh tế trọng điểm cần tập trung chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế về quản lý, điều hành (chính sách đất đai, tài chính, đào tạo nhân lực, khai thác sử dụng tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, cải cách hành chính,…); nghiên cứu ban hành chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch, các ngành dịch vụ có chất lượng cao.

Hai là, đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp của vùng theo hướng sản xuất hàng hóa lớn; nhân rộng mô hình “cánh đồng lớn”, các vùng chuyên canh, tăng cường mối liên kết “bốn nhà” thông qua những mô hình hợp tác xã kiểu mới. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, chú trọng phát triển các khu vực dịch vụ hỗ trợ để nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm chủ lực của từng địa phương, đặc biệt là 3 sản phẩm chủ lực trong nông nghiệp (lúa gạo, thủy sản, trái cây) gắn với xây dựng thương hiệu ở thị trường trong và ngoài nước.

Ba là, tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông (đường bộ, đường thủy, đường hàng không) theo hướng ưu tiên cho các công trình trọng điểm, huyết mạch có tính kết nối liên vùng; phát triển hệ thống cảng biển theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống thích ứng với biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng hiện đại.

Bốn là, thúc đẩy liên kết, hợp tác phát triển kinh tế giữa 4 tỉnh, thành phố trong Vùng Kinh tế trọng điểm và giữa Vùng Kinh tế trọng điểm với các tỉnh, thành khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống nông dân; tập trung đầu tư xây dựng nông thôn mới theo các chương trình, mục tiêu đã đề ra.

Năm là, tăng cường công tác cải cách hành chính, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thân thiện, cạnh tranh bình đẳng để tăng thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tranh thủ các nguồn vốn để đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng (nhất là hạ tầng nông nghiệp, nông thôn), hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải. Nghiên cứu áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù cho một số kinh tế trọng điểm như: Khu Kinh tế Phú Quốc (Kiên Giang), Khu Kinh tế cửa khẩu Bình Khánh (An Giang).

Sáu là, tăng cường đầu tư trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; trong đó chú trọng phát triển các cơ sở đào tạo các ngành nghề phục vụ nhu cầu phát triển công nghệ cao, nhất là nông nghiệp công nghệ cao, để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn phát triển mới của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Bảy là, đầu tư phát triển các cơ sở khoa học trong vùng, đặc biệt ưu tiên cho cơ sở nghiên cứu nông, lâm, ngư nghiệp và công nghệ sinh học; tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học - công nghệ mới phục vụ phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của vùng. Trong đó, cần tập trung đầu tư xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm khoa học - công nghệ, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Huy Vũ

Video