Thứ Sáu, 21/7/2017
Xây dựng và phát triển thương hiệu vùng đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn chính sách
27/10/2014 21:45' Gửi bài này In bài này

Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là vựa lúa gạo, trái cây, thủy sản của cả nước mà còn là nơi bảo đảm “sức khỏe” cho nền nông nghiệp Việt Nam, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước. Nhiều năm qua, các mặt hàng nông sản chủ lực của vùng như lúa gạo, trái cây, thuỷ sản luôn chiếm sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn của cả nước. Thế nhưng đến nay, hầu hết các mặt hàng này vẫn chưa có được thương hiệu mạnh. Yêu cầu xây dựng và phát triển các thương hiệu nông sản chủ lực của vùng, gắn với các doanh nghiệp thành đạt, uy tín, trên cơ sở liên kết vùng, liên kết “bốn nhà”... đã được đặt ra thời gian qua, nhưng đến nay vẫn chưa như mong muốn. Một chiến lược thương hiệu vùng, miền nói chung và thương hiệu cho các loại nông sản chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đang trở thành đòi hỏi cấp bách.

Việc xây dựng thương hiệu vùng đồng bằng sông Cửu Long nên bắt đầu từ đâu; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân được xác định ra sao; cách thức triển khai như thế nào… để tạo ra sự phối hợp tốt trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các địa phương và của vùng.

Thương hiệu không chỉ là “tài sản riêng” của doanh nghiệp

Thương hiệu (brand) là khái niệm đã được sử dụng trong nghiên cứu, xuất hiện trong một số văn bản hành chính và được dùng phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày. Có thể hiểu đó là một tập hợp các dấu hiệu nhận biết về một đối tượng nào đó hoặc về một sản phẩm, dịch vụ cụ thể, gắn với một doanh nghiệp, một địa phương, vùng lãnh thổ hay một quốc gia, tạo ra thương hiệu của doanh nghiệp, địa phương, vùng miền, hay thương hiệu quốc gia. Thương hiệu cần được xây dựng và phát triển để giữ vững được giá trị niềm tin của “khách hàng”. Nhiều nước đã quan tâm xây dựng, phát triển thương hiệu nhằm hoạch định các cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, địa phương, vùng miền hay quốc gia mình(1).

Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành chỉ định nghĩa về “nhãn hiệu”(2) và “hoạt động thương mại”(3), không nêu rõ khái niệm “thương hiệu” là gì. Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25-11-2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển Thương hiệu quốc gia” cũng chỉ định ra một chương trình xúc tiến thương mại quốc gia dài hạn, nhằm xây dựng, quảng bá nhãn hiệu sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa, được mang biểu trưng của Thương hiệu quốc gia trên thị trường trong và ngoài nước.

Thời gian qua, chúng ta quen tiếp cận và sử dụng “thương hiệu” chủ yếu dưới góc độ của doanh nghiệp, cho dù thương hiệu đó được gắn với một địa danh cấp xã, huyện, tỉnh, cấp vùng (cà phê Tây Nguyên, Trung Nguyên; trái cây, lúa gạo miền Tây…), hay cấp quốc gia (Hàng Việt Nam chất lượng cao, Thương hiệu Việt…). Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam được xây dựng cũng để phát triển các thương hiệu mạnh của doanh nghiệp tầm quốc gia, vươn ra quốc tế. Đó là “tài sản riêng” của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới, yêu cầu đang đặt ra là cần tiếp cận, xây dựng và phát triển thương hiệu từ góc độ “tài sản công” của một địa phương, vùng miền và quốc gia. Dưới góc độ này, thương hiệu trở thành tài sản tinh thần của xã hội. Quá trình tạo dựng, quản lý và phát huy thương hiệu không chỉ có vai trò của doanh nghiệp mà còn là sự góp sức của mọi thành phần trong xã hội cũng như sự hoạch định chính sách, điều phối chiến lược của Nhà nước.

Xây dựng và phát triển các thương hiệu vùng đồng bằng sông Cửu Long

Việc đăng ký sử dụng, chứng nhận, bảo hộ thương hiệu vùng miền đã được nhiều quốc gia quan tâm, nâng tầm giá trị. Song, ở nước ta vấn đề này đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Gần đây, một số địa phương, doanh nghiệp đã quan tâm xây dựng, đăng ký chứng nhận xuất xứ hàng hoá, bảo hộ thương hiệu. Nước mắm Phú Quốc được đăng ký và bảo hộ tại 28 quốc gia châu Âu; khoai lang Bình Tân - Vĩnh Long được cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá tập thể… Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một chương trình thương hiệu vùng miền trong chiến lược thương hiệu quốc gia, khiến nhiều sản phẩm, lợi thế vẫn chỉ ở dạng “tiềm năng”. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và phát triển các thương hiệu vùng đồng bằng sông Cửu Long của doanh nghiệp (được đặt trong một chuỗi giá trị của quá trình sản xuất hàng hóa), xác định trách nhiệm - lợi ích của từng “chủ thể” tham gia, những “công đoạn” quyết định, “điểm nút” đột phá để chọn lựa giải pháp, thứ tự ưu tiên và tiến hành đồng bộ để xây dựng chiến lược thương hiệu… là những vấn đề rất quan trọng.

Vấn đề đầu tiên là cần xây dựng thương hiệu để khẳng định giá trị các mặt hàng nông sản chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long như lúa gạo, trái cây, thuỷ sản. Điểm bắt đầu phải từ doanh nghiệp, và chính sự hợp tác của doanh nghiệp - nông dân cùng với nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ tạo ra vùng sản xuất rộng lớn. Doanh nghiệp là “mắt xích” cuối cùng trong chuỗi đầu ra của xuất khẩu nông sản. Hơn ai hết, doanh nghiệp “biết mình, biết ta” trong cuộc cạnh tranh trên trường quốc tế.

Vấn đề thứ hai là nâng cao vai trò của nhà khoa học - “chất xám” của thương hiệu nông sản. Các thương hiệu gạo, cá tra, trái cây của đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng gắn với tên của doanh nghiệp hoặc địa phương, nhưng hàm chứa trong nó lại có một phần rất lớn là “chất xám” của các nhà khoa học và “mồ hôi” của người nông dân. Để có các thương hiệu nông sản đồng bằng sông Cửu Long, phải giải quyết đồng bộ từ khâu giống, canh tác, công nghệ sau thu hoạch, tồn trữ và phải tăng cường liên kết “bốn nhà” với hiệu quả thực chất. Với quan điểm đó, vừa qua, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ chủ trì, phối hợp với Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Cây ăn quả miền Nam, Trường Đại học Cần Thơ và các địa phương xây dựng Dự án Phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long thông qua liên kết vùng và sự tham gia “bốn nhà”.

Tuy nhiên, “chất xám” của nhà khoa học cần được gắn với các doanh nghiệp cụ thể và nông dân. Trong khi đó, người nông dân đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như: thiếu vốn sản xuất (giá vật tư sản xuất đầu vào cao, mua chịu vật tư trước sau đó trả với lãi suất cao); chi tiêu gia đình ngày càng cao (sinh hoạt, chữa bệnh, học hành,...); thu nhập thấp do giá nông sản thời điểm bán thấp, thị trường tiêu thụ bấp bênh. Sản xuất nông sản ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chủ yếu vẫn là ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ, manh mún. Vì thế, muốn xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nhà nước cần có những giải pháp tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ những mô hình tốt như “cánh đồng mẫu lớn”, tăng cường tập huấn cho nông dân để nâng cao kỹ năng ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến và thực hiện các quy trình canh tác theo nhóm giống, tiểu vùng sinh thái, quy trình thực hành sản xuất tốt; đầu tư công nghệ sau thu hoạch; quản lý kinh tế hộ; tiếp thị - quảng bá… Chỉ khi nào có hệ thống các giải pháp đồng bộ, tháo gỡ khó khăn cho người nông dân - khâu đầu tiên của quy trình sản xuất các mặt hàng nông sản chủ lực của vùng - thì mới có thể xây dựng được thương hiệu nông sản mang tính vùng, miền và tầm quốc gia.

Vấn đề thứ ba có vai trò rất quan trọng là sự tác động, hỗ trợ từ Nhà nước. Vai trò của Nhà nước có tác động to lớn trong liên kết “bốn nhà” thông qua cơ chế, chính sách chỉ đạo tổ chức sản xuất, điều tiết thị trường, điều hành xuất khẩu. Thực tế cho thấy, để giải quyết tốt khâu giống, sản xuất, chế biến, xuất khẩu gạo và nông sản trong hành trình xây dựng thương hiệu, Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc điều hòa lợi ích. Cần định danh rõ ràng từng thương hiệu gạo, trái cây, thủy sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long vào Chương trình thương hiệu quốc gia của Chính phủ để góp phần quảng bá hình ảnh đất nước. Một nhãn hiệu “Made in Mekong Delta” cho các mặt hàng nông sản chủ lực của đồng bằng sông Cửu Long là cách tiếp cận hiệu quả với thị trường xuất khẩu, kể cả thị trường trong nước.

Đề xuất một số giải pháp

Xây dựng và phát triển thương hiệu (nhìn từ khu vực công lẫn khu vực tư) với tiếp cận theo vùng là một yêu cầu tất yếu, khách quan, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, phát huy giá trị tinh thần, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế vượt trội của vùng miền. Để đạt mục tiêu đó, thiết nghĩ cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách - pháp lý, quy hoạch - đầu tư

Về cơ chế, chính sách và pháp lý: Xây dựng và phát triển thương hiệu dưới 2 góc độ: là “tài sản riêng của doanh nghiệp” và “tài sản chung” của cộng đồng ở một địa phương, vùng miền và quốc gia. Trong cách tiếp cận “thương hiệu là tài sản riêng” cần bổ sung chính sách thương hiệu vùng, miền để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, xây dựng và phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng, miền. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi đồng bộ để bảo hộ thương hiệu.

Về quy hoạch - đầu tư: Rà soát, bổ sung quy hoạch theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, dựa trên lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực, dịch vụ được lựa chọn xây dựng thương hiệu mạnh, tránh dàn trải để tập trung đầu tư chiều sâu. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cần tăng cường liên kết vùng phát triển sản xuất và tiêu thụ, xây dựng các “Cụm ngành (cluster) lúa gạo, trái cây, thuỷ sản” của vùng có lợi thế cạnh tranh.

Thực tế cho thấy, vấn đề quan trọng là thay đổi tư duy và phương pháp đầu tư, chuyển từ đầu tư theo “đoạn” sang đầu tư theo “chuỗi” sản xuất. Việc đầu tư theo chuỗi sẽ giúp tránh trường hợp tập trung đầu tư không cân đối trong chuỗi, có đoạn phình to nhưng có đoạn lại teo tóp gây ra tình trạng mất ổn định trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn vậy, trước tiên cần xác định sản phẩm phải trải qua những công đoạn nào trong chuỗi sản xuất để quy hoạch và xây dựng, phát triển thương hiệu.

Nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ

Để khắc phục tình trạng sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, công nghệ lạc hậu, cần chú trọng áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến một cách đồng bộ tại các khâu giống, nuôi trồng và chế biến. Quy trình đó gồm: phát triển công nghệ sinh học, áp dụng rộng rãi VietGAP, GlobalGAP trong sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch để giảm thất thoát, nâng cao chất lượng nông, lâm, thuỷ sản và gia tăng giá trị của sản phẩm… gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu.

Nhóm giải pháp về thị trường và liên kết

Cần tăng cường đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo thị trường; tổ chức hội chợ triển lãm trong nước và nước ngoài để các doanh nghiệp tham gia giới thiệu, quảng bá các hàng hóa chủ lực của địa phương. Tăng cường liên kết vùng chuyên canh và tập trung sản xuất, liên kết chuỗi sản xuất, liên kết thị trường - doanh nghiệp và liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tiếp tục tổ chức mạng lưới liên kết theo mô hình các “Cluster cây ăn trái” để làm hạt nhân liên kết chặt chẽ. Cách làm này hay hơn các hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản lỏng lẻo, thường bị phá vỡ hợp đồng do những biến động về giá cả như thời gian qua.

Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực

Hiện nay, phần lớn lao động của vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tốt, đa số xuất thân từ nông thôn, hoạt động sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào khả năng và kinh nghiệm mang tính truyền thống. Vì thế, việc áp dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ mới gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ quản lý phần lớn còn thiếu kiến thức và kỹ năng, dẫn đến tình trạng quản lý điều hành mang tính tự phát, cảm tính và thiếu tầm nhìn. Từ thực trạng này, cần có quy hoạch, phân luồng đào tạo chuyên môn và dạy nghề, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, phù hợp, cán bộ quản lý có năng lực để cung cấp cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất hay khu công nghiệp sản xuất hàng hóa chủ lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn với vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu./.

--------------------------------------

(1) Việt Nam có Chương trình Thương hiệu quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2003.

(2) Khoản 16, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

(3) Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Trần Hữu HiệpVụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ

Video