Việt Nam trên đường đổi mới
Về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
15:9' 11/7/2011

TCCS - Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đang đứng trước những thay đổi lớn lao có ý nghĩa bước ngoặt. Những thay đổi ấy tạo ra những cơ hội và thách thức đối với đường lối, chính sách phát triển, trong đó có chính sách xóa đói, giảm nghèo. Xuất phát từ quan điểm vấn đề đói nghèo không được giải quyết thì không có mục tiêu nào đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện. Chính sách xóa đói, giảm nghèo đã trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và là một nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.



Những nhân tố tác động đến chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020

Để chủ động, sáng tạo trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn mới, trước hết cần làm rõ những nhân tố tác động đến chính sách này, có quan hệ trực tiếp đến sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nhất là thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Làm rõ những nhân tố tác động đến chính sách còn góp phần khắc phục bệnh "chủ quan, duy ý chí một cách tập thể" và bệnh thành tích đã lan rộng trong các cấp quản lý.

Trong thập niên 2011 - 2020, chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta chịu tác động của những nhân tố sau đây:

1 - Tăng trưởng kinh tế phiến diện

Vấn đề đói nghèo, về khách quan, là sản phẩm tất yếu của một mô hình kinh tế nhất định. Khi một mô hình kinh tế đã cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo.

Nước ta đã chuyển sang mô hình công nghiệp hóa từ nhiều năm nay. Đó là mô hình kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng nhanh. Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, mô hình ấy có vai trò nhất định ở giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường, nhưng nếu kéo dài thời gian thực hiện mô hình ấy chỉ lo tăng trưởng số lượng thì những vấn đề xã hội sẽ phát sinh và tăng lên, thể hiện ở vấn đề đói nghèo trở nên nghiêm trọng, phân hóa giàu nghèo mở rộng khoảng cách nhanh chóng, lối sống trong xã hội xuất hiện nhiều vấn nạn mới.

Trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường trên thế giới thì mô hình công nghiệp hóa này đã diễn ra hơn 200 năm trước đây trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong thế kỷ XX, mô hình này đã biến đổi dần dưới hình thức "khủng hoảng - phát triển", đã lỗi thời và kết thúc vào nửa sau thế kỷ XX, khi mô hình phát triển bền vững dựa trên kinh tế tri thức ra đời và phát triển mạnh mẽ. Đây là bối cảnh thế giới khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Do kéo dài mô hình công nghiệp hóa chạy theo tăng trưởng số lượng, nên hiện nay nước ta tuy thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo đạt những kết quả nhất định, nhưng vấn đề đói nghèo trên thực tế ở cả khu vực chính thức lẫn khu vực phi chính thức vẫn còn nhiều điểm cần quan tâm nghiên cứu.

Ở khu vực chính thức (khu vực nhà nước) thì vấn đề đói nghèo ở trong bối cảnh tiền lương thấp. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, lương tối thiểu hiện mới chỉ đáp ứng 60% - 65% nhu cầu cần thiết. Mức lương này (dù đã tăng lên) vẫn không bảo đảm bù đắp sức lao động giản đơn, chưa thể nói đến tái tạo sức lao động và nâng cao năng lực lao động. So với các nước trong khu vực, lương tối thiểu ở Việt Nam hiện thấp hơn khoảng 40%. Ưu điểm của một mô hình kinh tế không chỉ ở năng suất lao động mà còn ở mức sống của người lao động.

Chính sách tiền lương thấp hiện nay còn được các doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài lấy đó để làm căn cứ để trả lương cho người lao động, chứ không dựa vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Những nhược điểm trong quản lý nhà nước đã bị các doanh nghiệp khai thác làm cho người lao động ngày càng đói nghèo. Ngoài ra, theo cam kết quốc tế, tới năm 2012, sự bình đẳng trong trả lương giữa các thành phần kinh tế phải được thực hiện, trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước phải có chung mức lương tối thiểu (khác với mức lương tối thiểu trong bộ máy nhà nước).

Vấn đề đói nghèo hiện nay khác với đói nghèo trước đây ở thôn quê do nhịp độ phát triển các dự án chỉ nhằm thu hút đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, còn các yêu cầu an sinh xã hội chưa được quan tâm, nhất là trong giải phóng mặt bằng, trong tái định cư đã để lại hậu quả về mất việc làm và đói nghèo tăng lên.

Nhìn tổng quát, tác động của tăng trưởng kinh tế một cách phiến diện đến đói nghèo có nguyên nhân sâu xa từ việc duy trì quá lâu mô hình công nghiệp hóa đã lỗi thời ở thời đại hiện nay, còn nguyên nhân trực tiếp là bệnh thành tích theo nhiệm kỳ của bộ máy quản lý. Thực tiễn cho thấy, giải quyết vấn đề đói nghèo phải gắn liền với đổi mới mô hình kinh tế với đổi mới tư duy và phương pháp quản lý.

2 - Môi trường bị tàn phá

Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo. Ở đây chỉ nêu lên mấy mặt chủ yếu:

Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp. Các khu công nghiệp, các công ty đã làm hàng loạt sông ngòi, kênh rạch, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm do không giải quyết vấn đề chất thải. Kết quả là làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng. Những chi phí cho chữa trị bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm.

Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu không những đưa đến mực nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai để sinh sống (Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động trước tiên), mà còn gây ra những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển, bờ sông, phèn hóa đất đai nông nghiệp. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam dự báo, nếu mực nước biển dâng thêm 1 mét thì khoảng 20% châu thổ và 10% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có thể bị nhấn chìm. Những tai họa gần này sẽ làm tăng sự đói nghèo về mức độ và phạm vi.

Thứ ba, vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và đói nghèo ở nước ta trở nên cấp bách khi con sông Mê Công rơi vào tình trạng lâm nguy. Sông Mê Công dài 5.400 km chảy qua Trung Quốc, Mi-an-ma, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam, cung cấp nước cho trồng trọt, cho vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 65 triệu người. Riêng nhu cầu nguồn nước cho khu vực này tăng nhanh (từ 43.700m3 năm 2002 tăng lên 56.700m3 vào cuối năm 2010).

Mối đe dọa chính đối với sông Mê Công là việc xây dựng đập thủy điện. Trung Quốc đã có 5 đập hoạt động, dự định xây thêm 15 đập cỡ lớn và cực lớn ở thượng nguồn. Các nước Đông Nam á có kế hoạch xây dựng 11 con đập ở hạ nguồn. Những con đập này sẽ làm biến đổi sự điều hòa tự nhiên và lưu lượng dòng chảy theo mùa (tính thủy học), làm giảm lượng phù sa ở hạ nguồn, đe dọa những khu vực trồng lúa nước năng suất cao nhất thế giới (như đồng bằng sông Cửu Long), đe dọa các luồng cá di chuyển sinh sản ở một con sông đang là ngư trường cá nước ngọt lớn nhất thế giới, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của nông dân và ngư dân. Mối đe dọa sông Mê Công còn do tác động của biến đổi khí hậu, gây ra ngày càng nhiều những trận lũ lụt và hạn hán trầm trọng, xói mòn bờ, nước biển dâng cao ở khu vực châu thổ con sông này.

Như vậy, vấn đề môi trường bị tàn phá đang và sẽ là một trong những nguy cơ rất lớn về đói nghèo đối với cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong thập niên tới. Chính sách xóa đói, giảm nghèo từ năm 2011 trở đi phải được xây dựng trên những cơ sở hiện thực mới nói trên, khác hẳn với cách làm chắp vá dựa trên “tư duy hỗ trợ, ban ơn”, chỉ nhằm ổn định xã hội ngắn hạn, không có khả năng phát triển.

Khi xem xét tác động của môi trường đến phát triển kinh tế và xã hội, còn phải tính đến giá trị địa - kinh tế của Việt Nam. Đó là giá trị địa - kinh tế ven biển, với chiều dài 3.260 km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo, diện tích mặt biển lớn gấp ba lần diện tích đất liền. Đó là lợi thế để tăng trưởng kinh tế gắn chặt với thu hẹp diện đói nghèo, bằng cách khai thác tiềm năng biển gắn liền với bảo vệ môi trường của một nền kinh tế sinh thái thông qua hiện đại hóa 4 trung tâm vùng biển: Hạ Long - Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Phú Quốc và xây dựng lực lượng hiện đại bảo vệ vùng biển.

Mặt khác, phải chấm dứt những hoạt động kinh tế trái với đòi hỏi trên, như khai thác cát để bán cho Xin-ga-po. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm hoạt động khai thác cát đã làm mất một khối lượng tương đương một hòn đảo rộng 15 km2.

3 - Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp.

Đây là nhân tố tác động không nhỏ đến mức độ đói nghèo, nhưng thường bị bỏ qua và chậm đổi mới. Xét trên toàn cảnh, tác động của nhân tố tổ chức, quản lý của các cấp đến đói nghèo có mức độ khác nhau, ở những thời gian khác nhau, được thể hiện tập trung ở mấy mặt sau đây:

Thứ nhất, tính chất và mức độ "hành chính quan liêu" trong các cấp đã ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:

- Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ, làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng.

- Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng. Những sai phạm này thường ở cấp chính quyền cơ sở và huyện.

- Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn, nên "dễ thông qua nhưng khó thi hành" ở cấp vĩ mô. Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi trọng mặt chính sách, giải trình nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát. Vì vậy đã có những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ "lách luật" và lạm dụng. Đây là hạn chế của cấp vĩ mô.

Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án kinh tế - xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài. Hiện nay, chỉ số ICOR quá cao (# 8) tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tăng trưởng và đói nghèo.

Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách làm nặng về số lượng (người ta nói do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội.

Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân. Hiện tượng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, thậm chí cả trong dự án xóa đói, giảm nghèo, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo và ổn định xã hội khó giải quyết. Nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng là những người này đang trở thành lực lượng "nội xâm", coi thường luật pháp và vô trách nhiệm.

Trong thời gian qua, thực hiện Chương trình 135, Chương trình 30a, cũng như hỗ trợ giải quyết đói nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần giảm tỷ lệ nghèo, nhưng con số nghèo ở nông thôn và đô thị vẫn còn cao. Nếu về mặt tổ chức, quản lý nhà nước không khắc phục tình trạng hành chính quan liêu, lãng phí, tham nhũng thì các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020 khó có triển vọng.

 Định hướng chính sách xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020

1 - Tính tất yếu, cấp bách thay đổi định hướng chính sách

Thực tiễn kinh tế - xã hội nước ta trong những năm qua cho thấy, không thể giải quyết vấn đề đói nghèo theo tư duy truyền thống chỉ nhằm ổn định xã hội trước mắt, tách rời giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói, giảm nghèo.

Về khách quan, tư duy ấy vốn là sản phẩm của mô hình công nghiệp hóa truyền thống đã lỗi thời từ cuối thế kỷ XX.

Về chủ quan, tư duy ấy còn là di sản của nền kinh tế tập trung bao cấp với quan hệ "ban ơn" và "chịu ơn" giữa Nhà nước với nhân dân trước đổi mới.

Tính cấp bách của việc đổi mới tư duy kinh tế chính trị về tăng trưởng và đói nghèo còn thể hiện ở nguy cơ Việt Nam rơi vào "cái bẫy thu nhập trung bình" của một quốc gia thoát nghèo và gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình nhưng rồi mất nhiều thập niên vẫn không trở thành nước phát triển. Từ năm 2009, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa Việt Nam vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình (hơn 1.000 USD/người). Hiện nay, nước ta buộc phải vượt qua thử thách của cái bẫy này.

2 - Định hướng chính sách xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020

Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế.

Đây là hướng chung của sự nghiệp đổi mới, là bước chuyển giai đoạn từ tăng trưởng số lượng lên tăng trưởng cả số lượng và chất lượng, là giai đoạn lấy chất lượng làm động lực tăng trưởng kinh tế.

Hơn một thập niên qua, mô hình tăng trưởng số lượng, dựa trên khai thác tài nguyên và lao động gia công, dựa trên thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã tới giới hạn và đang phát sinh nhiều tiêu cực cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Do đó, nhu cầu cấp bách về kinh tế và chính trị là chuyển sang mô hình phát triển bền vững, như các Đại hội của Đảng đã nêu là: "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường". Như vậy, vấn đề chính sách xóa đói, giảm nghèo phải đặt trong tiến trình chuyển sang mô hình phát triển bền vững. Vấn đề đói nghèo được giải quyết từ ba hướng gắn bó với nhau: Tăng trưởng kinh tế bền vững, tự nó đã hạn chế phát sinh đói nghèo; tiến bộ xã hội (thể hiện ở trình độ giáo dục, dân trí) là điều kiện trực tiếp để giải quyết đói nghèo; bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề quan trọng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội.

Sự chuyển đổi mô hình kinh tế không chỉ là nhu cầu của nước ta mà là xu thế của thời đại hiện nay, đang thách thức cả các nước phát triển. Nhìn từ sự nghiệp đổi mới, thì chuyển đổi mô hình kinh tế là lần đổi mới thứ hai, sau lần đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường (từ năm 1986). Đây là cơ hội lớn và thách thức lớn.

Thứ hai, tạo lập những tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề đói nghèo trong mô hình mới.

Đây là những tiền đề vừa để xây dựng mô hình kinh tế mới, vừa giải quyết có hiệu quả vấn đề đói nghèo.

- Xây dựng các hình thức liên kết các ngành khoa học và công nghệ với sản xuất và xây dựng, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thúc đẩy lan tỏa hình thức liên kết "bốn nhà" (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và Nhà nước) trong các dự án nông, lâm, thủy sản và dịch vụ.

- Phát triển các hình thức giáo dục miễn phí phổ cập về nghề nghiệp cho những người trong diện đói nghèo. Nên dựa vào các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài thực hiện các dự án về giáo dục, y tế, xã hội. Hướng hoạt động là nâng cao năng lực, ý thức chủ động vượt đói nghèo của người dân nông thôn, miền núi. Cách làm này hoàn toàn khác với cách làm phong trào để ban ơn, lấy thành tích.

- Về mặt quản lý nhà nước, cần có quy định về tư vấn, phản biện và giám định xã hội của các dự án sản xuất, xây dựng các dự án xóa đói, giảm nghèo trước khi thực hiện, nhằm thể hiện được định hướng phát triển bền vững.

- Nhà nước chỉ phê duyệt các dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài bảo đảm thực hiện mô hình phát triển bền vững. Đồng thời phải rà soát, thanh tra các khu công nghiệp, các dự án đã và đang sản xuất và xây dựng, quy định thời gian chuyển đổi sang mô hình mới. Bởi vì, càng kéo dài kiểu sản xuất kinh doanh cũ thì càng tạo ra nguy cơ về đói nghèo.

Thứ ba, đổi mới tổ chức và thể chế quản lý của Nhà nước theo yêu cầu đổi mới mô hình kinh tế.

Mô hình tổ chức nhà nước và thể chế quản lý hiện nay, xét cho cùng cũng là sản phẩm của mô hình tăng trưởng cũ. Khi mô hình tăng trưởng kinh tế đã lỗi thời mà kéo dài kiểu tổ chức, quản lý cũ thì càng làm cho tình hình kinh tế và xã hội phát sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng.

Về khách quan, mô hình phát triển bền vững đòi hỏi và quy định mô hình tổ chức, thể chế quản lý là Nhà nước pháp quyền của dân được đề ra từ Đại hội IX. Những vấn đề nóng trong kỳ họp Quốc hội đầu năm 2010 cho thấy những khó khăn và chậm trễ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở một nước kém phát triển, đang phát triển. Vấn đề đói nghèo từng tồn tại lâu dài trong lịch sử. Sự tăng hay giảm đói nghèo gắn liền với trình độ phát triển của nhà nước và phản ánh bản chất nhà nước. Như vậy, đói nghèo ở phạm vi một nước là một vấn đề chính trị. Các cuộc khủng hoảng xã hội và những biến động về chính trị đều phát sinh từ tình hình đói nghèo và bất bình đẳng xã hội.

Đổi mới tư duy và phương pháp hoạch định và thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo

1 - Đổi mới tư duy về chính sách xóa đói, giảm nghèo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vạch rõ ba thứ giặc đe dọa sự tồn vong của chính quyền nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Sau 30 năm kháng chiến chúng ta đã giải quyết vấn đề giặc ngoại xâm, giành được độc lập dân tộc, còn giải quyết vấn đề "giặc đói", "giặc dốt" thì sau 35 năm chúng ta vẫn chưa có nhiều bước tiến về chất lượng phát triển. Đây là thách thức bên trong lớn nhất khi bước vào thập niên 2011 - 2020 với những biến đổi có tính bước ngoặt, khi giải quyết vấn đề "giặc đói" và "giặc dốt". Nó đòi hỏi Đảng cầm quyền phải có tư duy mới và năng lực mới trong xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển. Tư duy mới về chính sách xóa đói, giảm nghèo, trước hết là tư duy hệ thống, tức là đặt vấn đề đói nghèo trong chiến lược chuyển sang mô hình phát triển bền vững, trong đó giải quyết vấn đề "giặc đói" và "giặc dốt" phải đồng thời, tạo điều kiện cho nhau, làm cho chính sách xóa đói, giảm nghèo mang ý nghĩa là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân được coi là trách nhiệm và mục tiêu của Đảng.

2 - Tư duy mới phải đi đôi với năng lực mới và phương pháp mới của Đảng.

Trong tình hình hiện nay có những vấn đề lớn sau đây:

Thứ nhất, tạo một bước phát triển chất lượng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền với ba nội dung cơ bản: mô hình tổ chức nhà nước, thể chế hoạt động, vấn đề cán bộ, nhất là cấp trưởng. Muốn vậy cần nhận thức đúng và đổi mới mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Phân định rõ và công khai về quyền hạn và trách nhiệm mỗi nhánh quyền lực.

Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp bằng cách thu hút tinh hoa của dân tộc (khác với cơ cấu Mặt trận Tổ quốc). Chức năng của Quốc hội không chỉ lập pháp mà đặc biệt là phải giám sát cơ quan hành pháp bằng một tổ chức giám sát có quyền hạn rõ ràng, trước hết nhằm chống tham nhũng, lãng phí - một nguyên nhân gây ra đói nghèo.

Thứ ba, nâng cao và thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước, kể cả trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Đảng cần tăng cường sự lãnh đạo của mình bằng cách phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội của các đoàn thể, tổ chức xã hội, nhờ đó Đảng tăng thêm gấp bội sức mạnh trí tuệ của mình, khác với phương thức chỉ sử dụng hoạt động nội bộ cấp ủy để giải quyết vấn đề của toàn xã hội. Sự tổng kết của các thế hệ trước về sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp dân tộc vẫn rất đúng cho hiện nay: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Đây chính là nguồn gốc của những giá trị có ảnh hưởng lâu dài của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cách làm dựa vào dân vốn là kinh nghiệm thành công của Đảng, nay đang bị cản trở khá nhiều bởi cách làm hành chính quan liêu đã thành thói quen của nhiều cán bộ, công chức. Xây dựng và thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020 cũng không ngoài bài học ấy./.

Trần Ngọc HiênGS, TS, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

VIDEO