Việt Nam trên đường đổi mới
Long An thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
16:29' 2/11/2010


TCCS - Sau gần 20 năm kiên trì phấn đấu, hiện nay Long An đã có 20 khu công nghiệp, 45 cụm công nghiệp, với tổng diện tích gần 23.880 ha, chiếm 35% diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long; góp phần tạo động lực cho nông nghiệp, nông thôn của tỉnh phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Năng động, sáng tạo trong hành động

Những năm trước đây, Long An đã thành công trong chiến dịch đột phá vào kinh tế thị trường và điều này có sức lan tỏa rất lớn tới nhiều địa phương trong cả nước, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới ở nước ta, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, giá trị của bài học và kinh nghiệm thực tiễn mà Long An làm được, đã và đang tiếp tục tạo ra động lực mới để Đảng bộ Long An tiếp tục thực hiện thành công chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn của tỉnh.

Có một thời kỳ khá dài, trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh Long An, người dân cứ loay hoay với chuyển đổi cây trồng - vật nuôi. Sản xuất của nông dân luôn bị thua lỗ vì chất lượng một số loại nông, thủy sản hàng hóa sản xuất còn thấp, giá thành cao nên sức cạnh tranh kém. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (nhiệm kỳ 2000 - 2005) đã tập trung phân tích nguyên nhân của sự thất bại, tìm giải pháp đột phá trong phát triển kinh tế của tỉnh là: chuyển đổi nhanh diện tích đất nông nghiệp có năng suất thấp và tận dụng tối đa lợi thế vị trí địa lý (tiếp giáp các trục giao thông, gần Thành phố Hồ Chí Minh...) để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị; qua đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tăng tiềm lực kinh tế của tỉnh; tạo nguồn lực đẩy mạnh phát triển các khu vực kinh tế trọng điểm và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trong lĩnh vực thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ luôn chú trọng đến các ngành, nghề phục vụ sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đề ra nhiệm vụ tập trung lãnh đạo thực hiện mục tiêu chủ yếu là phát triển mạnh mẽ sản xuất công nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp -thương mại dịch vụ. Trong đó, tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, phục vụ yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, cải tiến thủ tục hành chính, thủ tục đầu tư theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư đến đăng ký hoạt động. Chủ động hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, vùng; đổi mới, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư với nhiều hình thức đa dạng (theo dự án, ngành nghề, nhất là các dự án, ngành nghề phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; xúc tiến đầu tư ở các địa phương trong nước và nước ngoài).

Tính đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có 5.552 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đăng ký 148.854 tỉ đồng và 317 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,63 tỉ USD, trong đó 125 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn 1,22 tỉ USD. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 đạt 15.720 tỉ đồng (giá cố định năm 1994), khu vực II (công nghiệp và xây dựng cơ bản) chiếm tỷ trọng 33% cơ cấu kinh tế của tỉnh (năm 2005 chiếm 27,9%), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với ưu thế về vốn, công nghệ luôn tăng trưởng khá cao, chiếm tỷ trọng lớn (trên 70% giá trị xuất công nghiệp), là đầu tàu phát triển công nghiệp của tỉnh.

Thành công vì nông nghiệp, nông dân

Chương trình hành động số 21-CTr/TU của Tỉnh ủy Long An thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã xác định nhiều giải pháp mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm lớn của Đảng bộ và chính quyền tỉnh nhằm phát triển toàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.

Đến nay, Long An đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh 186 cụm, tuyến dân cư vượt lũ, bố trí chỗ ở ổn định cho hơn 35.000 hộ dân, tổng kinh phí đầu tư trên 1.000 tỉ đồng. Các cụm, tuyến dân cư ngoài tác dụng tránh lũ, còn là nơi phân bố lại dân cư nông thôn, hình thành các tiểu vùng “đô thị” nông thôn, hình thành các làng nghề tiểu, thủ công nghiệp, sản xuất kinh doanh thương mại tương đối có hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn, đặc biệt là vùng Đồng Tháp Mười, vùng thường xuyên ngập lũ.

Long An đã có nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn nhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngành tiểu, thủ công nghiệp có thế mạnh, các làng nghề truyền thống còn phát huy về hoạt động tại các cụm, tuyến nhằm sử dụng có hiệu quả lượng lao động nhàn rỗi, tạo công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.

Do đẩy mạnh thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu phát triển nông nghiệp và đời sống nông dân của tỉnh đã mang lại hiệu quả thiết thực, hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khu vực nông thôn có sự thay đổi rõ rệt. Giao thông nông thôn được đầu tư thông suốt, đường ô-tô về cơ bản đã đến trung tâm các xã; gần 98% số hộ dân có điện sinh hoạt; 85% số hộ nông thôn sử dụng nước sạch; hưởng thụ văn hóa tinh thần, chăm sóc sức khỏe ngày càng tiến bộ hơn. Sóng phát thanh - truyền hình được phủ rộng khắp địa bàn tỉnh, 100% số xã có bưu điện văn hóa. Đời sống của nông dân không ngừng được cải thiện, số hộ giàu và khá ngày càng tăng, không còn hộ đói; GDP khu vực kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp từ chỗ chiếm tỷ trọng cao, 48,5% (năm 2000), giảm xuống còn 38,7% (năm 2009). Những năm gần đây, tuy sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp gặp nhiều rủi ro bởi dịch bệnh, thời tiết gây hại nhưng tổng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp năm 2009 (giá cố định 1994) đạt 5.928,3 tỉ đồng, tăng hơn năm 2000 là 2.027,6 tỉ đồng.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp, khu vực thương mại - dịch vụ cũng có bước tiến đáng kể. Long An chủ trương phát triển thương mại - dịch vụ vừa phục vụ phát triển công nghiệp, vừa tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhờ sự chỉ đạo tập trung, ưu tiên cho một số ngành, lĩnh vực, thương mại - dịch vụ của tỉnh chuyển biến tích cực qua từng năm. Hạ tầng thương mại tiếp tục được tăng cường, hệ thống chợ, trung tâm thương mại, siêu thị phát triển rộng khắp với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh (kim ngạch xuất khẩu bình quân năm 2006 - 2008 tăng 30%, năm 2009 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 1,05 tỉ USD. Long An là một trong những tỉnh có nguồn thu ngân sách cao nhất đồng bằng sông Cửu Long (năm 2005 thu 1.327 tỉ, năm 2009 thu đạt gần 3.000 tỉ đồng). Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 2006 - 2008 đạt 13,1%, riêng năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề do suy thoái kinh tế thế giới, suy giảm kinh tế trong nước, nhưng tỉnh vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 7,6%, thu nhập bình quân đầu người 18,85 triệu đồng/năm.

Tuy vậy, so với yêu cầu nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra về thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Long An vẫn còn một số bất cập, tồn tại, yếu kém cần phải khắc phục là:

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhưng còn chậm so yêu cầu và tiềm năng của tỉnh; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa thật sự vững chắc, hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích còn thấp; dịch bệnh thường xuyên xảy ra gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất; hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn còn nhiều yếu kém (là địa bàn nhiều sông ngòi, kênh rạch nên việc đi lại, vận chuyển, tiêu thụ hàng hóa bằng đường bộ rất khó khăn).

Đời sống một bộ phận nhân dân vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn; lao động nông nghiệp rất thiếu vào vụ thu hoạch, lao động nhàn rỗi còn nhiều, khả năng tạo thêm thu nhập ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân rất ít. Dù có nhiều cố gắng nhưng nhìn chung tổng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn ở Long An thời gian qua vẫn còn thấp và chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển, chưa tương xứng với vị trí và vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Những kinh nghiệm bước đầu

Từ thực tiễn thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Long An, có thể rút ra một số kinh nghiệm cụ thể như sau:

Trước tiên, chủ động, hoàn thành công tác quy hoạch phát triển ngành, vùng, quy hoạch sử dụng đất để tạo cơ sở thu hút, bố trí đầu tư; tập trung mọi nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là đường giao thông, điện, nước,... kịp thời phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, nhất là công nghiệp, trên cơ sở phát triển công nghiệp để phát triển các ngành thương mại - dịch vụ, tạo nội lực mạnh đầu tư phát triển toàn diện kinh tế - xã hội.

Thứ hai, khuyến khích đẩy mạnh liên kết hợp tác trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất quy mô lớn, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nghiên cứu, ứng dụng đưa vào sản xuất các loại cây, con giống có năng suất và chất lượng cao; đẩy mạnh liên kết “4 nhà”, thực hiện có hiệu quả Quyết định số 80/QĐ-CP về tiêu thụ hàng hóa qua hợp đồng, bảo đảm hàng hóa do người nông dân sản xuất ra được tiêu thụ với giá cả phù hợp, người sản xuất có lợi nhuận để tái đầu tư;

Thứ ba, cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp về hoạt động tại khu vực nông thôn, sử dụng nguyên liệu, lao động tại địa phương, ổn định địa bàn dân cư với mục tiêu “ly nông bất ly hương”. Tăng cường công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho nông dân, xây dựng một lực lượng nông dân có trình độ, có khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh ngành sản xuất nông nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Một số giải pháp trong thời gian tới

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần nghị quyết đại hội các cấp nhiệm kỳ 2010 - 2015, Long An đang tích cực điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030, với các giải pháp thực hiện cụ thể:

Một là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, bổ sung, nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bảo đảm ổn định, bền vững, có tính chiến lược lâu dài; quản lý, điều hành thực hiện quy hoạch chặt chẽ, thực hiện tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, chế tài để nông dân và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trên địa bàn nông thôn đúng theo quy hoạch.

Trên cơ sở quy hoạch, Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí, dịch vụ cung ứng vật tư, tiêu thụ nông sản hàng hóa, kể cả đầu tư sản xuất vùng chuyên canh, tập trung, quy mô lớn, có chất lượng các loại nông sản có thế mạnh xuất khẩu như gạo, thanh long, thủy sản... Nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với các thành phần kinh tế tham gia hỗ trợ, hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp đất đai, thổ nhưỡng gắn với thị trường tiêu thụ; đặc biệt, nâng cao vai trò của Nhà nước đồng hành cùng nông dân tiếp thị, xúc tiến thương mại cho sản phẩm hàng hóa nông nghiệp.

Hình thành các vùng chuyên canh, tập trung quy mô lớn, chất lượng cao phù hợp từng vùng để mời gọi các nhà đầu tư và tạo điều kiện để ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nhất là về giống. Xác định việc ứng dụng giống mới có năng suất, chất lượng, phẩm cấp cao là một khâu đột phá trong phát triển nông nghiệp. Nhà nước chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch đầu tư cho công tác giống như sớm hoàn thiện hệ thống các trung tâm, trạm, trại giống cây trồng, vật nuôi, liên kết với các trung tâm khoa học về giống, đặt hàng với các nhà khoa học, nông dân có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sản xuất giống để hỗ trợ nông dân giống mới vừa kháng bệnh, vừa có năng suất, chất lượng cao. áp dụng các biện pháp khuyến cáo, cảnh báo, thông tin thị trường, kiểm soát, chế tài, khuyến khích nông dân trong việc sử dụng giống có chất lượng cao.

Mở rộng đối tượng, địa bàn, lĩnh vực mà Nhà nước hỗ trợ nông dân cơ giới hóa các khâu sản xuất, đi đôi với khuyến khích, hỗ trợ tập thể, cá nhân đầu tư các dịch vụ cơ giới hóa, phơi sấy, bảo quản, chế biến nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa. Tăng năng lực cung cấp điện phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Khảo sát đánh giá chất lượng hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất nông nghiệp để có kế hoạch củng cố phát triển, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã. Đồng thời tổ chức thí điểm công ty cổ phần trong nông nghiệp để những nông dân có kinh nghiệm, biết ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tham gia cổ phần và là người trực tiếp lao động sản xuất trong công ty.

Hai là, quy hoạch nông thôn mới gắn với đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và triển khai xây dựng nông thôn mới; trong đó tập trung quy hoạch bố trí dân cư sinh sống tập trung, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng cụm, tuyến dân cư, đồng thời với việc quy hoạch nhà ở, giao thông, khu vui chơi giải trí, trường học, chợ, trạm xá, hệ thống điện lưới, cung cấp nước sạch và cụm công nghiệp nông thôn về chế biến, xay xát, phơi sấy, kho tàng, khu xử lý nước thải và nghĩa trang nhân dân.

Trên cơ sở gắn quy hoạch nông thôn mới xây dựng tiêu chí nông thôn mới để huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng. Rà soát, điều chỉnh cơ cấu đầu tư ngân sách nhà nước, tăng mạnh đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; bố trí vốn ngân sách tỉnh, huyện đầu tư năm sau so với năm trước tăng khoảng 25%, bảo đảm 5 năm sau cao gấp 2,5 lần 5 năm trước.

Thiết lập cơ chế phân cấp đầu tư, huy động sức dân và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn. Theo đó, phải có lộ trình, kế hoạch, phân bổ ngân sách nhà nước hằng năm kết hợp các chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư cho đường giao thông đến trung tâm xã, các tỉnh lộ, các thị trấn, thị tứ, khu đô thị mới; thủy lợi vành đai, đầu nguồn; đường điện hạ thế, trường học, trạm y tế, trụ sở xã... Các công trình khác phải có dự án, kế hoạch huy động sức dân và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn. Xác định đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn cả trước mắt và lâu dài là khâu đột phá, tập trung vào 3 đối tượng chính: Nâng cao trình độ dân trí cư dân nông thôn; đào tạo nghề cho nông dân; đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho khu vực nông thôn.

Tăng nguồn lực cho ngành giáo dục và đào tạo, cụ thể là đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, các điểm trường hợp lý, phù hợp từng vùng đi đôi đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập của cư dân nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, xã nghèo; bảo đảm đến năm 2020 cư dân nông thôn có điều kiện học tập nâng cao trình độ dân trí gần bằng với thành thị. Thực hiện chương trình, kế hoạch, đề án liên kết, hợp tác với các trường, trung tâm dạy nghề, các doanh nghiệp đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm cho nông dân trong vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và đào tạo nghề, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, huấn luyện kiến thức làm nghề nông cho nông dân.

Trong chương trình đào tạo, phát huy nguồn nhân lực của tỉnh phải cơ cấu một kế hoạch cụ thể, đặc biệt ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là đào tạo kiến thức về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn cho cán bộ trong hệ thống chính trị ở nông thôn và cho bản thân người nông dân.

Đánh giá kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm, trên cơ sở đó có kế hoạch, lộ trình cụ thể thực hiện có hiệu quả chiến lược giảm nghèo, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh; trong đó chú trọng giải pháp huy động các nguồn lực cùng Nhà nước chăm lo đối tượng nghèo, ưu tiên hàng đầu là đào tạo nghề và giải quyết việc làm, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội cho khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, xã nghèo, biên giới./.

Trương Văn Tiếp

VIDEO