Tiêu điểm
Thực hiện chính sách hậu phương quân đội trong thời kỳ mới
10:38' 22/12/2009


TCCS - Chính sách hậu phương quân đội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng hậu phương vững mạnh, nhất là nền tảng chính trị, tinh thần, trực tiếp tác động mạnh mẽ đến công tác xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn dân.

Những thành tựu đã đạt được

Trong các thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn, đồng thời phát huy được trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Những thành tựu nổi bật trong thời gian qua là:

Thứ nhất, hệ thống chế độ quy định về chính sách hậu phương quân đội từng bước được ban hành, đồng thời không ngừng được bổ sung, sửa đổi phù hợp với từng thời kỳ. Trong những năm đổi mới, Nhà nước đã chuyển từ chính sách mang tính phân phối, trợ cấp sang chính sách gắn với cơ chế kinh tế mới, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh. Hằng năm, có hơn 1.000.000 thân nhân quân nhân được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, gần 200.000 cán bộ quân đội nghỉ hưu được quản lý và chăm sóc theo phân cấp, trong đó có trên 2.000 cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng.

Ngoài ra, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm cho quân nhân phục viên xuất ngũ cũng được bổ sung, phát triển, người về hưu được chăm sóc tốt hơn, mỗi năm gần 10.000 quân nhân xuất ngũ đã được đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Các chế độ, chính sách đối với các lực lượng làm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở địa phương dần dần thiết thực hơn, góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đối tượng chính sách hậu phương quân đội.

Thứ hai, các hoạt động, phong trào thực hiện chính sách hậu phương quân đội, phong trào "đền ơn đáp nghĩa" được kế thừa, ngày càng phát triển cả bề rộng và chiều sâu, đã phát huy được trách nhiệm của hệ thống chính trị, truyền thống, đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Đồng thời, Nhà nước cũng đề ra nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo, từng bước xã hội hóa chính sách hậu phương quân đội, quan tâm chăm lo gia đình quân nhân công tác ở vùng khó khăn và đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt... Hơn 10 năm qua, toàn quân đã đóng góp trên 300 tỉ đồng cho hoạt đồng "đền ơn đáp nghĩa"; nhận phụng dưỡng 1.402 mẹ Việt Nam anh hùng; đào tạo, bố trí việc làm và đỡ đầu hơn 8.000 con thương binh, liệt sĩ, xây mới và sửa chữa hơn 8.000 căn nhà tình nghĩa, nhà đồng đội. Các đơn vị quân đội đã đóng góp hàng triệu ngày công lao động, khám chữa bệnh miễn phí cho hàng chục vạn đối tượng chính sách.

Thứ ba, tập trung lực lượng, phương tiện, nguồn kinh phí, giải quyết một cách hiệu quả công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập mộ liệt sĩ, nhất là ở địa bàn Lào, Cam-pu-chia và các vùng biên giới, hải đảo. Cụ thể, từ năm 1994 đến nay, các đơn vị quân đội đã tìm kiếm, cất bốc được trên 68.500 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 18.500 hài cốt liệt sĩ ở chiến trường Lào, 13.000 hài cốt liệt sĩ ở chiến trường Cam-pu-chia, đồng thời cũng xác minh, báo tử 13.000 liệt sĩ, giám định cấp giấy chứng nhận cho hơn 59.000 thương binh, 9.500 bệnh binh v.v.. Mặt khác, từng bước giải quyết một số bức xúc của thân nhân và bản thân đối tượng chính sách đối với những vấn đề còn tồn đọng và một số vướng mắc trong công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, bệnh binh,... Các đối tượng tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã phục viên, xuất ngũ về cơ bản đã được giải quyết chính sách hằng tháng hoặc một lần.

Thứ tư, từng bước ban hành và thực hiện tốt các chính sách xã hội có liên quan đến quốc phòng, an ninh, hậu phương quân đội cụ thể, các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân; chương trình 134, 135... đã đem lại tác dụng thiết thực đối với công tác xây dựng hậu phương, nhất là vùng sâu, vùng xa. Chính sách, chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ tại ngũ cũng từng bước được đổi mới đã góp phần cải thiện cuộc sống của các gia đình quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng...

Các đoàn kinh tế - quốc phòng đóng quân trên các địa bàn chiến lược đã làm được trên 1.000 km đường giao thông, đỡ đầu, đón nhận gần 60.000 hộ dân đến lập nghiệp... Trong hai năm 2008 - 2009, các đơn vị bộ đội biên phòng đã xây dựng được hơn 2.000 "mái ấm biên cương" tặng đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa...

Có thể thấy, trong suốt 65 năm qua, những thành tựu về chính sách hậu phương quân đội đã gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đổi mới chính sách ưu đãi đối với người có công là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho hậu phương quân đội ngày càng ổn định và phát triển bền vững, góp phần phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, xây dựng "thế trận lòng dân" và nền tảng chính trị tinh thần của đất nước; đóng góp to lớn sức người, sức của và niềm tin chiến thắng cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chính sách hậu phương quân đội hiện nay vẫn còn có những hạn chế, bất cập, cụ thể được thể hiện ở một số mặt sau:

Các chế độ, chính sách hậu phương quân đội còn chậm được thể chế hóa, chưa toàn diện và đồng bộ, nhìn chung chưa theo kịp sự phát triển của tình hình. Tư duy nghiên cứu hoạch định và chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách hậu phương quân đội có lúc còn lúng túng, thiếu chiều sâu, vừa còn mang dấu ấn bao cấp, vừa có yếu tố của thị trường hóa. Quá trình thực hiện chính sách hậu phương quân đội chưa tích hợp được các yếu tố tích cực của các chính sách xã hội có quan hệ đến quốc phòng, an ninh và xây dựng hậu phương quân đội. Cơ chế, mối quan hệ phối hợp chưa được xác định thật rõ và vận hành tốt, các thiết chế bảo đảm để thực hiện chính sách hậu phương quân đội chưa được quan tâm đúng mức, điều tiết và bố trí chưa hợp lý, chưa có tính hệ thống và đồng bộ về quy hoạch. Trách nhiệm của các cấp, các ngành chưa được phân định thật rõ, sức mạnh tổng hợp chưa được phát huy tốt, các phong trào thực hiện chính sách hậu phương quân đội, "đền ơn đáp nghĩa" thời gian gần đây chưa thật sâu rộng, hiệu quả chưa cao. Việc thực hiện một số nội dung lớn về chính sách hậu phương quân đội còn gặp vướng mắc, khó khăn như việc bảo đảm nhà ở, đất ở cho gia đình quân nhân, giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ. Những vấn đề chính sách tồn đọng sau các cuộc chiến tranh và do lịch sử để lại chưa được giải quyết triệt để. Sự chuyển biến và mức độ thụ hưởng về đời sống vật chất, tinh thần của đối tượng chính sách hậu phương quân đội nhìn chung còn khiêm tốn, số hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo còn cao, khó khăn nhất là những gia đình và đối tượng chính sách vùng căn cứ địa cách mạng, vùng sâu, vùng xa, những người, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.

Những hạn chế, bất cập nêu trên đã tác động nhất định đến tính tích cực của đối tượng chính sách hậu phương quân đội và ổn định hậu phương, sự yên tâm phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ tại ngũ. Những hệ quả đó hạn chế sức thu hút lực lượng ưu tú vào phục vụ quân đội, tác động lớn đến ý thức, trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nguyên nhân chủ yếu là sự nhận thức chưa thật đầy đủ và sâu sắc của các cấp, các ngành, nhất là nhận thức của cơ quan tham mưu, chỉ đạo về vị trí, vai trò, phương hướng, yêu cầu, nội dung và cơ chế hoạt động của chính sách hậu phương quân đội, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách. Ngoài ra, kinh tế nước ta còn khó khăn, phát triển chưa vững chắc, tiềm lực còn hạn chế, trong khi đó các nhu cầu về đầu tư phát triển, và an sinh xã hội vẫn còn nhiều bất cập. Mặt trái của kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ đến số lượng và chất lượng của chế độ, chính sách đã ban hành cũng như các phong trào, các thiết chế bảo đảm để thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Nguyên nhân cơ bản và quan trọng hơn cả là sự hạn chế trong xây dựng hệ thống cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên môn thực hiện chính sách. Lực lượng cán bộ chuyên trách nhìn chung còn mỏng, chưa có nhiều chuyên gia giỏi, việc chuyển tiếp chưa thật sự vững chắc, nhất là về bản lĩnh tư duy nghiên cứu phát triển, kinh nghiệm, sự am hiểu về đối tượng chính sách vẫn còn hạn chế.

Một số giải pháp cơ bản

Quán triệt quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển"; các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phù hợp với quá trình đổi mới chính sách kinh tế - xã hội, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, tiếp tục thể chế hóa sâu rộng, đồng bộ chính sách hậu phương quân đội phù hợp với tình hình mới, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả thiết thực. Đổi mới chính sách đối với gia đình cán bộ, chiến sĩ tại ngũ, tập trung hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực hiện các chế độ về chăm sóc sức khỏe cho thân nhân, hỗ trợ về giáo dục cho con cán bộ, chiến sĩ còn trong độ tuổi đi học. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ thiết thực cho gia đình cán bộ, chiến sĩ tại ngũ về sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm và thu nhập, khai thác nhiều nguồn cung, đa dạng hóa hình thức, đổi mới cơ chế tài chính, tín dụng, từng bước bảo đảm nhà ở cho gia đình sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng phù hợp với quy định mới của pháp luật về nhà ở và đặc thù của quân đội, gắn liền với phát triển mạnh hơn nữa hệ thống nhà công vụ. Thường xuyên động viên tinh thần và hỗ trợ kịp thời về vật chất đối với gia đình cán bộ, chiến sĩ có hoàn cảnh khó khăn, gia đình quân nhân đang làm nhiệm vụ nơi đặc biệt khó khăn, gian khổ. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, hỗ trợ, góp phần chăm sóc thiết thực hơn đối với cán bộ quân đội đã nghỉ hưu. Quan tâm đến những người có hoàn cảnh đặc biệt, cán bộ tham gia các thời kỳ chiến tranh đã nghỉ hưu trong lúc đất nước còn khó khăn hoặc phục viên, chuyển ngành, thôi việc không được hưởng chế độ hằng tháng. Nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề, đổi mới chế độ, cách thức tổ chức dạy nghề cho bộ đội trước và sau khi xuất ngũ, kết hợp chặt chẽ, khoa học, linh hoạt giữa trách nhiệm của tổ chức trong định hướng thông tin, tạo cơ hội, điều kiện về cơ chế, chính sách với tính chủ động, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ. Có nhiều hình thức kết nối thị trường lao động, trong và ngoài nước, đa dạng hóa tạo việc làm, bảo đảm cho quân nhân xuất ngũ được đào tạo, nâng cao tay nghề, có việc làm và thu nhập, ổn định cuộc sống. Đồng thời, có cơ chế, chính sách phù hợp bồi dưỡng và đào tạo lại số quân nhân xuất ngũ để tăng cường cán bộ cho hệ thống chính trị ở cơ sở. Tăng dần các chế độ hỗ trợ, sinh hoạt phí và các chính sách đãi ngộ khác, bảo đảm cho những người được huy động làm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở địa phương nêu cao tinh thần trách nhiệm, khuyến khích họ tích cực, hăng hái hơn, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, tập trung nghiên cứu, đề xuất giải quyết có hiệu quả các vướng mắc, bất cập tồn tại, những vấn đề chính sách do lịch sử để lại và hậu quả tồn đọng của các cuộc chiến tranh, chế độ, chính sách đối với những người tham gia kháng chiến... nhằm đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội, đồng thời tiếp tục tôn vinh những người có nhiều công lao, cống hiến cho cách mạng, góp phần giáo dục lòng yêu nước và truyền thống cách mạng trong tình hình mới. Cải cách mạnh thủ tục hành chính, gắn với nâng cao chế độ trách nhiệm, giải quyết hiệu quả các vướng mắc cho thương binh, liệt sĩ. Phát huy trách nhiệm của hệ thống chính trị, của toàn quân, toàn dân, tổ chức, cá nhân có liên quan, đề ra nhiều giải pháp thiết thực, mạnh mẽ hơn về lực lượng, phương tiện, kinh phí và đầu tư khoa học có chiều sâu để giải quyết tốt hơn vấn đề mộ liệt sĩ, vấn đề chất độc da cam / đi-ô-xin, đặc biệt là những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Nghiên cứu, đề xuất ban hành và tổ chức thực hiện tốt chính sách đối với những người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; đẩy nhanh hơn tiến độ thực hiện chính sách với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chủ động phát hiện và giải quyết kịp thời những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của đối tượng chính sách, không để tích tụ bức xúc kéo dài, xử lý nghiêm minh những sai sót, tiêu cực trong thực hiện chính sách hậu phương quân đội.

Ba là, không ngừng đổi mới cơ chế, cải tiến cách thức tổ chức thực hiện, phát huy sức mạnh tổng hợp, xã hội hóa chính sách hậu phương quân đội. Định hình và vận hành có hiệu quả cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp thực hiện chính sách hậu phương quân đội, trọng tâm là mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tham mưu, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, giữa đơn vị quân đội với địa phương; phân định rõ vai trò chủ trì và phối hợp trong nghiên cứu hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách. Phát huy cao trách nhiệm chính trị, khơi dậy tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, bảo đảm hài hòa các lợi ích vật chất, tinh thần, động viên toàn xã hội, các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Mở rộng và nâng cao chất lượng các phong trào chính sách hậu phương quân đội, các chương trình tình nghĩa, phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo lý "uống nước nhớ nguồn"; phát hiện, xây dựng và phổ biến những điển hình mới, làng xã làm tốt chính sách hậu phương quân đội. Phát triển mạnh mẽ hơn các thiết chế bảo đảm thực hiện chính sách hậu phương quân đội (các cơ sở dạy nghề, giải quyết việc làm; cơ sở chăm sóc người có công; cơ sở điều dưỡng...). Từng bước hình thành và nâng cao chất lượng các hoạt động hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ và dịch vụ xã hội về chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội. Tiếp tục động viên các đối tượng chính sách hậu phương quân đội nỗ lực vươn lên, chủ động khắc phục đói nghèo, vượt lên hoàn cảnh của chính mình, làm giàu cho mình và cho đất nước. Các đơn vị quân đội vừa phải thực hiện tốt nhiệm vụ chính sách theo phân công, vừa phối hợp thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội gắn với địa bàn đóng quân, thực sự là một trong những lực lượng nòng cốt góp phần xã hội hóa chính sách hậu phương quân đội.

Bốn là, thường xuyên phối hợp đề xuất và thực hiện tốt các chính sách xã hội có quan hệ đến quốc phòng, an ninh và hậu phương quân đội. Quan tâm triển khai đồng bộ và phối hợp thực hiện tốt các chính sách xã hội (bảo đảm xã hội, cứu trợ, bảo trợ...) nhằm bảo đảm an sinh xã hội, gắn với địa bàn khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, địa bàn khu vực các đơn vị quân đội đồn trú. Phối hợp thực hiện tốt các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo, hướng về vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa trước đây, khu căn cứ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai... Tập trung xóa nhà tạm, dột nát, ổn định sản xuất và đời sống, không để gia đình chính sách rơi vào diện nghèo đói, thiếu sự quan tâm chăm sóc. Trên cơ sở bảo đảm công bằng, phù hợp với cơ chế mới, tăng thêm chất lượng các hoạt động dịch vụ xã hội có tính phúc lợi cho gia đình quân nhân và đối tượng chính sách hậu phương quân đội (miễn giảm một số loại phí, thuế, đóng góp khác ở các địa phương, có nhiều hình thức hỗ trợ về đời sống văn hóa tinh thần). Đổi mới và hoàn thiện các chế độ, chính sách chăm sóc vật chất, tinh thần đối với cán bộ, chiến sĩ tại ngũ, trước hết, bảo đảm tốt hơn điều kiện sinh hoạt, tăng dần thu nhập từ tiền lương để người hưởng lương trong quân đội có thêm điều kiện tích lũy, hỗ trợ, chăm sóc gia đình...

Để thực hiện các định hướng trên các cấp cần phải không ngừng đổi mới về nhận thức, tư duy, tạo được sự đồng thuận xã hội, và sự nỗ lực vươn lên của chính bản thân đối tượng chính sách hậu phương quân đội. Với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách hậu phương quân đội nhất định sẽ được thực hiện tốt hơn, góp phần tạo ra động lực mạnh mẽ hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Trần Văn Minh

VIDEO