Tiêu điểm
Xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn Quân khu 7
10:38' 22/12/2009


TCCS - Tiềm lực quốc phòng dựa trên nền tảng của tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự… Trong đó tiềm lực quân sự là then chốt. Xây dựng tiềm lực quốc phòng là nội dung cơ bản, là mục tiêu xuyên suốt của xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng trong tình hình mới; xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trong thời bình. Quân khu 7 xem đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân khu 7 là địa bàn chiến lược quan trọng ở phía Nam và cả nước, có tiềm năng, thế mạnh trên nhiều lĩnh vực. Quân khu 7 đóng trên địa bàn bao gồm 8 tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh, dân số hơn 18 triệu người, có tổng diện tích 45.022.96 km2, chiều dài bờ biển 332 km, vùng biển rộng khoảng 112.000 km2, 2 huyện đảo Phú Quý và Côn Đảo, có 615 km đường biên giới với nước bạn Cam-pu-chia.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quân khu có 7/9 tỉnh (thành phố) thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thu hút tỷ lệ lớn đầu tư nước ngoài, với 83 khu công nghiệp, 4 khu chế xuất, 2 khu công nghệ cao, 6 khu kinh tế mở, 1 khu công viên phần mềm... đã đóng góp trên 50% GDP của cả nước. Vì thế, nơi đây các thế lực thù địch thường chọn làm trung tâm tấn công, chống phá bằng tất cả những thủ đoạn thâm độc và nham hiểm nhất thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ... Các thế lực thù địch chọn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, địa bàn Quân khu 7 nói chung tập trung công kích về nhiều mặt nhằm làm suy yếu ta, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ngăn chặn và đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước là trọng trách to lớn đối với nhân dân và lực lượng vũ trang trên địa bàn Quân khu. Ý thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của địa bàn chiến lược trọng yếu, nắm vững đường lối quan điểm quốc phòng toàn dân của Đảng, được sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu cùng cấp ủy, chính quyền các địa phương đã và đang có nhiều nỗ lực lãnh đạo, chỉ huy xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn Quân khu với phương châm toàn diện, vững chắc.

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần góp phần củng cố và tăng cường tình đoàn kết quân dân

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu coi việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần của cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang là nội dung quan trọng hàng đầu trong xây dựng tiềm lực quốc phòng của Quân khu, nền tảng chính trị - tinh thần của sức mạnh quân sự và có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng các tiềm lực khác. Thời gian qua Quân khu đã thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 3-5-2007 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới”, Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10-7-2007 của Chính phủ về “Giáo dục quốc phòng - an ninh”. Quân khu tập trung bồi dưỡng quốc phòng - an ninh cho các đối tượng là cán bộ, đảng viên (Quân khu và địa phương bồi dưỡng từ đối tượng 2 đến đối tượng 5). Riêng cho đối tượng 2 đã thực hiện được 45 khóa với hơn 4.000 cán bộ, học sinh, sinh viên, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo và thực hiện xã hội hóa giáo dục quốc phòng toàn dân. Nhờ làm tốt nhiệm vụ trên, ý thức quốc phòng - an ninh của nhân dân và cán bộ, đảng viên được nâng cao; trình độ giác ngộ chính trị và tinh thần cảnh giác cách mạng của các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt, góp phần xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền.

Cùng với giáo dục quốc phòng - an ninh, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu cùng cấp ủy, chính quyền các cấp phối hợp triển khai xây dựng “Thế trận lòng dân”, gắn chặt với các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Nội dung, phương thức được đổi mới, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thông qua các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xóa đói, giảm nghèo”, “Phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng”, “Chăm sóc sức khỏe cộng đồng”... Hằng năm Quân khu đều tổ chức các đoàn cán bộ quân y đi khám chữa bệnh, phát thuốc cho đồng bào vùng sâu, vùng xa và nước bạn Cam-pu-chia. Tổ chức nhiều đợt khảo sát, tìm kiếm các hài cốt liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến cũng như làm nhiệm vụ quốc tế. Mỗi khi trên địa bàn Quân khu xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, lực lượng vũ trang đều có mặt kịp thời tại những nơi xung yếu nhất để ứng cứu. Khi chưa có chiến tranh, quân và dân tích cực lao động phát triển kinh tế - xã hội, mọi người đều có trách nhiệm góp phần làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Nếu chiến tranh xảy ra, cả nước một lòng chống giặc ngoại xâm, tạo ra những “Tấm lưới sắt”, “Bức thành đồng”, bảo vệ đất nước. Đó là sức mạnh của tiềm lực chính trị - tinh thần, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, bí quyết sức mạnh giữ nước của dân tộc ta.

Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, giữ nước kết hợp với dựng nước

Tiềm lực kinh tế có ý nghĩa quyết định sức mạnh của đất nước, nước phải giàu thì mới có quốc phòng, an ninh mạnh và nền quốc phòng hiện đại. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu xác định đây là nhiệm vụ cơ bản, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nâng cao tiềm lực quốc phòng và là vấn đề có ý nghĩa quyết định các tiềm lực khác trên địa bàn Quân khu. Nếu có chiến tranh, đòi hỏi khả năng của nền kinh tế trên địa bàn phải bảo đảm cung cấp đủ những điều kiện vật chất như: vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật bằng nội lực, bởi chúng ta sẽ không còn viện trợ như trong chiến tranh giải phóng trước đây. Mặt khác, khi kẻ địch phát động chiến tranh xâm lược, không những chúng tìm mọi cách phá hoại cơ sở kinh tế của ta bằng các đòn tiến công hỏa lực vũ khí công nghệ cao, mà còn đồng thời thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, triệt tiêu tiềm lực kinh tế. Nhận thức sâu sắc vấn đề trên, những năm qua Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chú trọng đề cao ý thức tự lực, tự cường, xây dựng tiềm lực kinh tế trong lực lượng vũ trang Quân khu, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng đơn vị, địa phương ra sức tăng gia sản xuất, làm kinh tế, nhằm cải thiện và nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời khắc phục những khó khăn, trang trải một phần bảo đảm trang bị vật chất, giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước và đóng góp của nhân dân.

Những năm gần đây, bằng nguồn kinh phí tự tích lũy trong các hoạt động kinh tế, Quân khu đã đầu tư hơn 437 tỉ đồng để sửa chữa nâng cấp doanh trại, thực hiện tốt phong trào “Xây dựng và quản lý doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp”; mua mới 177 xe ô-tô vận tải các loại với tổng trị giá 77,9 tỉ đồng; quan tâm xây dựng nhiều công trình phúc lợi phục vụ đời sống của lực lượng vũ trang Quân khu. Các doanh nghiệp làm kinh tế thuộc Quân khu được sắp xếp lại tổ chức, đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh đi đúng hướng, có lãi, chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng và tham gia được thị trường, bảo đảm việc làm cho hàng chục nghìn lao động, trong đó có 50% là bộ đội xuất ngũ và các đối tượng chính sách. Gắn kinh doanh với sẵn sàng chiến đấu, kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng môi trường sinh thái phòng hộ chống thiên tai, bão lụt hằng năm. Quân khu tập trung xây dựng, củng cố hai đoàn kinh tế - quốc phòng (778 và Lâm Đồng) vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, những đơn vị này đã trở thành điểm sáng về phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội ở vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, tập trung nghiên cứu xây dựng kế hoạch nhằm khai thác, động viên công nghiệp dân sự sẵn sàng chuyển sang công nghiệp quốc phòng phục vụ và đáp ứng nhu cầu quốc phòng khi có chiến tranh.

Chủ động xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ

Những năm qua Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tích cực nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cũng như chiến tranh biên giới Tây Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Đồng thời chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, nghiên cứu các cuộc chiến tranh, xung đột xảy ra gần đây trên thế giới. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học, công nghệ 5 - 10 năm, quán triệt các quan điểm của Đảng về quốc phòng, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương trong điều kiện mới có kết hợp với kinh nghiệm truyền thống. Từng bước nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào công tác chỉ huy, quản lý lực lượng vũ trang, trong bảo quản, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật, bảo đảm hậu cần.

Quân khu đã xây dựng cơ chế huy động tiềm lực khoa học - công nghệ của các địa phương thông qua các tổ chức khoa học của Bộ trên địa bàn, nhằm nghiên cứu các đề tài khoa học phục vụ cho yêu cầu của lực lượng vũ trang Quân khu. Quản lý, sử dụng các công trình nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả vào thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, làm cơ sở nâng cao tiềm lực quốc phòng của nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn vững mạnh. Chủ động huấn luyện các đơn vị theo hướng tiếp cận và làm chủ các loại vũ khí công nghệ cao, đồng thời phát huy cao nhất tinh thần chủ động sáng tạo, tập trung nghiên cứu tìm tòi, xây dựng hệ thống phòng thủ vững chắc, phương thức đánh chặn hiệu quả trước các loại vũ khí hiện đại của đối phương.

Sức mạnh tiềm lực quân sự là then chốt của sức mạnh tiềm lực quốc phòng

Tiềm lực quân sự được xây dựng dựa trên những thành tựu của tiềm lực chính trị - tinh thần, kinh tế và tiềm lực khoa học - công nghệ. Nhận rõ được vị trí, tầm quan trọng của tiềm lực quân sự, Quân khu đã quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX của Đảng, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang theo hướng “Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng tốt, động viên nhanh, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, lấy chất lượng làm chính”.

Đối với lực lượng thường trực, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương được tổ chức theo yêu cầu xây dựng thời bình, sẵn sàng mở rộng khi có chiến tranh. Tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực vững mạnh toàn diện. Hiện nay, Quân khu đang tập trung xây dựng Đoàn bộ binh B05 trở thành đơn vị “điểm” cho toàn quân về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có sức chiến đấu cao, khả năng cơ động nhanh, thực sự là “quả đấm” quyết định của lực lượng vũ trang ba thứ quân trên địa bàn Quân khu. Tổng quân số hiện tại của lực lượng vũ trang Quân khu đạt 97% so với quy định của Bộ, trong đó khối bộ đội chủ lực đạt hơn 97,2%, khối địa phương đạt 94,6%.

Về xây dựng lực lượng dự bị động viên và công tác chuẩn bị động viên, tuy chưa có nhiều kinh nghiệm, song được sự lãnh đạo sâu sát, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền, người chỉ huy quân sự nên ở tất cả các địa phương thuộc Quân khu đều hoàn thành nhiệm vụ đăng ký, quản lý chặt chẽ quân dự bị. Hằng năm các địa phương tổ chức huấn luyện và báo động, động viên thử đạt kết quả khá tốt, bảo đảm đủ quân số, đúng thời gian quy định. Quân dự bị hạng 1 tăng 5,3%, hạng 2 tăng 12%, chỉ tiêu xếp vào đầu mối đơn vị đạt 80% (đúng chuyên nghiệp 70%).

Thực hiện xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn Quân khu theo hướng “vững mạnh, rộng khắp”. Đến nay 100% số xã, phường đều tổ chức lực lượng dân quân tự vệ, tỷ lệ dân quân tự vệ của Quân khu so với tổng dân số đạt 1,68%, trên hướng biên giới đạt 2,39%, hướng biển 1,49%, tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ đạt 13,31%.

Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân, từ năm 1996 Quân khu đã chỉ đạo xây dựng chi bộ quân sự ở xã, phường. Hiện tại, toàn Quân khu đã xây dựng được 1.268 chi bộ quân sự xã, phường và 52 tổ đảng, đạt 100% theo yêu cầu.

Đi đôi với xây dựng tổ chức lực lượng, Quân khu rất coi trọng xây dựng cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động các lực lượng vũ trang thời bình và sẵn sàng cho thời chiến. Trọng tâm là các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương trong các khu vực phòng thủ, hệ thống chỉ huy, các trung tâm thông tin liên lạc, các trận địa và công trình quốc phòng, các cơ sở bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và dự trữ vật chất của Quân khu. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, nhất là ở các lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, y tế, công nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phân bố, bố trí lại dân cư trên tuyến biên giới nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho tiềm lực quân sự.

Tăng cường sức mạnh tiềm lực quốc phòng trong tình hình mới

Quân khu đã chú trọng xây dựng thế trận tác chiến phòng thủ và chỉ đạo các địa phương xây dựng thế trận khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc trên địa bàn theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 152/CP của Thủ tướng Chính phủ về “Không ngừng hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của các ngành ở địa phương”. Để có tiềm lực quốc phòng mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, ngoài việc phát huy những thế mạnh hiện có, Quân khu đã đề ra chương trình hành động cụ thể như sau:

Một là, quán triệt, nắm vững quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng qua các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết của Đại hội Đảng bộ quân đội. Nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tập trung sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân với 6 tiêu chí: xây dựng Đảng; xây dựng chính quyền; xây dựng, phát triển kinh tế; giáo dục quốc phòng toàn dân; xây dựng lực lượng vũ trang; xây dựng công trình chiến đấu và trồng rừng.

Ba là, nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng vũ trang 3 thứ quân của Quân khu và lực lượng dự bị động viên vững mạnh. Trong đó, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng Đảng làm trung tâm, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên làm khâu then chốt.

Bốn là, đổi mới công tác giáo dục, huấn luyện và đào tạo, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ kỹ - chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ; chất lượng công tác chỉ huy tham mưu, công tác Đảng, công tác chính trị, công tác hậu cần, kỹ thuật, công tác nghiên cứu khoa học... đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Năm là, tăng cường sự gắn bó mật thiết với nhân dân, nêu cao ý thức trách nhiệm thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tích cực tham gia vận động nhân dân hiểu rõ và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Tiếp tục cùng địa phương chăm lo cho dân, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói, giảm nghèo và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Sáu là, tiếp tục phát huy tốt quan điểm tự lực tự cường, tích cực đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống bộ đội. Đồng thời sắp xếp lại doanh nghiệp bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tăng cường tiềm lực quốc phòng Quân khu.

Bảy là, tận dụng mọi nguồn lực, bảo đảm kịp thời về hậu cần - kỹ thuật cho các nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Quân khu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giúp nước bạn được Bộ Quốc phòng giao, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa 2 dân tộc Việt Nam - Cam-pu-chia và giữ vững ổn định biên giới./.

Triệu Xuân Hòa

VIDEO