Thông tin lý luận
An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
19:28' 16/3/2012
TCCSĐT - Để góp phần chuẩn bị Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), ngày 13-3-2012, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. TCCSĐT trân trọng giới thiệu Báo cáo Đề dẫn hội thảo của PGS, TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.


Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã “bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình”(1) và tiếp tục đẩy mạnh “công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”(2). Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời “thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”(3). Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, bởi vì việc chăm lo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam. Và hiện nay, chúng ta đang phấn đấu đến năm 2020 hệ thống an sinh xã hội sẽ bao phủ khắp toàn dân.

An sinh xã hội là một vấn đề rất rộng, do vậy trước khi thảo luận, chúng ta cần thống nhất một số điểm có tính phương pháp luận:

1. An sinh xã hội và cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội

Do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên giới nghiên cứu lý luận, cũng như những nhà chỉ đạo thực tiễn hiện có nhiều cách hiểu về an sinh xã hội. Tổng hợp các ý kiến, có thể khái quát, phạm trù an sinh xã hội thường được đề cập đến ở hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng: an sinh xã hội là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa...

Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác. Chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội.

Chính sách bảo đảm an sinh xã hội
là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội...) và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân (các chế độ không theo luật định) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội.

Về cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội: có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Theo quan điểm phổ biến của các tổ chức quốc tế, thì một hệ thống an sinh xã hội phải có tối thiểu 3 hợp phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính của an sinh xã hội, gồm:

Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro. Đây là tầng trên cùng của hệ thống an sinh xã hội. Chức năng của những chính sách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro. Trụ cột cơ bản của tầng này là những chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động.

Thứ hai, những chính sách, chương trình giảm thiểu rủi ro. Đây là tầng thứ hai, gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, v.v... Nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho Nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống. Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng.

Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội. Đây là tầng cuối cùng của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo...

Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: 1) Bảo hiểm xã hội; 2) Bảo hiểm y tế; 3) Bảo hiểm thất nghiệp; 4) Cứu trợ xã hội; 5) Trợ giúp và ưu đãi xã hội. Xét về thực chất, năm trụ cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng chiến lược của hệ thống an sinh xã hội: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro. So với mô hình phổ biến trên thế giới, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta có một cấu phần đặc thù, đó là chính sách ưu đãi xã hội. Chính sách này nhằm thực hiện mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; thực hiện trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội chăm lo, bảo đảm cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện.

2. Kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội và những thách thức đang đặt ra đối với quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

2.1. Kết quả tích cực

Thực hiện đường lối Đổi mới, trong hơn 25 năm qua, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ không ngừng được mở rộng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, góp phần hình thành xã hội không còn nhóm xã hội bị loại trừ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước.

Về mặt thể chế, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã hoạch định và triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội quan trọng, huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng (người dân tộc thiểu số, người nghèo, người già cô đơn, trẻ em và các đối tượng dễ bị tổn thương) vươn lên trong cuộc sống. Các chính sách và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (1) Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở,...; (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; (3) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụ người dân tốt hơn.

Đến nay công tác bảo đảm an sinh xã hội đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 9,5% (năm 2011); chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ mức 0,683 (năm 2000) lên mức 0,728 (năm 2011), xếp thứ 128/187 nước, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới; năm 2011 nước ta đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) do Liên hợp quốc đề ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015.

Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Hệ thống bảo hiểm xã hội được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia. Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loại hình là: bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế), bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc tăng nhanh, từ 4,8 triệu (năm 2001) lên 9,7 triệu (năm 2011). Sau gần 3 năm triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện, đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn người tham gia. Năm 2011 có khoảng 7,6 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 13,4% dân số (năm 2000) lên khoảng 62% (năm 2010). Đặc biệt, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo, v.v..

Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện. Mức trợ cấp ưu đãi năm 2010 tăng 2,2 lần so với năm 2006. Thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 1,4 triệu người có công. Đến nay, hơn 90% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn.

Các chính sách trợ giúp xã hội (thường xuyên và đột xuất) được thực hiện rộng hơn cả về quy mô và đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng. Kinh phí trợ giúp thường xuyên từ ngân sách nhà nước và số người được thụ hưởng tăng nhanh, từ 113 tỉ đồng cho hơn 180 nghìn người (năm 2001) tăng lên 4.500 tỉ đồng cho hơn 1,6 triệu người (năm 2010). Hằng năm Nhà nước còn trợ cấp đột xuất hàng nghìn tỉ đồng và hàng chục nghìn tấn lương thực, thuốc men, chủ yếu để trợ giúp khắc phục thiên tai.

Các phong trào “Tương thân, tương ái”, “Quỹ vì người nghèo“, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được tổ chức thường xuyên và thu hút sự hưởng ứng của nhiều lực lượng xã hội, đóng góp đáng kể vào việc nâng cao an sinh xã hội cho mọi người, nhất là những người nghèo, vùng nghèo.

2.2. Hạn chế và thách thức

Đến nay, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém: giảm nghèo chưa bền vững, người dân ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giữa các vùng miền có xu hướng mở rộng. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, ở vùng đô thị hóa và thất nghiệp ở thành thị còn nhiều. Nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, với diện bao phủ và mức hỗ trợ thấp, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khả năng cân đối giữa nguồn và sử dụng của hệ thống an sinh xã hội, kể cả các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ bảo trợ xã hội còn hạn chế và gặp thách thức lớn cả trước mắt, cũng như trong trung và dài hạn. Các quỹ bảo hiểm xã hội, đặc biệt là quỹ bảo hiểm y tế ở trong tình trạng báo động trong tương lai gần. Nguồn lực đầu tư cho an sinh xã hội của Nhà nước khó đáp ứng được yêu cầu an sinh xã hội ngày càng tăng của người dân, trong khi đó huy động từ các nguồn khác, đặc biệt từ cộng đồng còn hạn chế, nhất là vùng nông thôn. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung còn thấp, vẫn xảy ra không ít tiêu cực, phiền hà. Một số chính sách an sinh xã hội còn tồn tại những bất hợp lý; chưa có các chính sách an sinh xã hội đặc thù và phù hợp với dân cư nông thôn và các vùng dân tộc, miền núi có điều kiện sống khó khăn. Chất lượng cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội, đặc biệt là dịch vụ y tế, còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng mức sống của dân cư. Hệ thống hành chính, sự nghiệp cung cấp dịch vụ an sinh xã hội chưa theo kịp yêu cầu phát triển, còn hạn chế trong năng lực tổ chức và quản lý đối với các loại hình an sinh xã hội.

Những hạn chế trên đây đã đặt hệ thống an sinh xã hội của nước ta trước nhiều thách thức lớn, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh chính sách để vượt qua. Cụ thể là:

Thứ nhất,
trong quá trình đổi mới kinh tế, nhiều vấn đề an sinh xã hội bức xúc, mới phát sinh chưa được giải đáp một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn. Hệ thống chính sách, luật pháp về an sinh xã hội theo mô hình hiện nay không theo kịp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tiến trình hội nhập quốc tế.

Thứ hai, cùng với sự phát triển thì các nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu hướng tăng. Là nước đang phát triển với điều kiện địa - tự nhiên, địa - kinh tế đặc thù, nên Việt Nam rất dễ gặp phải rủi ro, ảnh hưởng đến sinh kế và thu nhập của người dân. Trong khi đó, do nguồn lực còn hạn chế, nên chúng ta chưa thật chủ động bảo đảm an sinh xã hội cho đông đảo dân cư.

Thứ ba, xu thế già hóa dân số đang và sẽ đặt ra nhiều khó khăn cho hệ thống an sinh xã hội hiện hành và trong tương lai, sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống y tế, bảo hiểm xã hội, các dịch vụ chăm sóc xã hội cho người cao tuổi.

Thứ, mức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội còn chưa hợp l‎ý, chưa bảo đảm cuộc sống cho các đối tượng thụ hưởng. Mức độ bền vững về tài chính, tính liên kết giữa các chế độ, chính sách an sinh xã hội còn nhiều bất cập.

Thứ năm, những rủi ro kinh tế, xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp và có diện ảnh hưởng rộng. Tác động tiêu cực của những “cú sốc khó lường trước” từ bên ngoài, như khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh... đến quốc kế dân sinh ngày càng nhanh và mạnh. Trong khi đó chúng ta lại chưa có nhiều kinh nghiệm phòng, chống rủi ro trong bối cảnh toàn cầu hóa và còn hạn chế về nguồn lực dành cho các hoạt động phòng, chống rủi ro.

Thứ sáu, sự phân hóa nhanh, mạnh trong nền kinh tế thị trường, đã làm cho các nhóm xã hội yếu thế ngày càng trở nên yếu thế hơn và dễ bị tổn thương hơn do hạn chế về khả năng cạnh tranh, khả năng phòng ngừa rủi ro trên thương trường. Các dòng di chuyển việc làm, di chuyển lao động diễn ra với cường độ ngày càng mạnh, tạo áp lực lớn cho việc bảo đảm quyền và cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, quyền thụ hưởng các chính sách an sinh của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Như vậy, các nhóm đối tượng của an sinh xã hội sẽ ngày càng đa dạng, đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách an sinh xã hội đa tầng, đa lớp, linh hoạt và đủ khả năng thực hiện những mục tiêu an sinh xã hội chủ yếu đến năm 2015, như Nghị quyết  Đại hội XI của Đảng đề ra là: “Tạo bước tiến bộ rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân... Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động... Tuổi thọ trung bình năm 2015 đạt 74 tuổi. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm"(4). Để đạt được những mục tiêu đó, cần  khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội lành mạnh, đủ khả năng thực hiện các chức năng của mình.

3. Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội

Trên cơ sở xem xét thực trạng hệ thống an sinh xã hội hiện hành, bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước và kinh nghiệm quốc tế, cần xác định một số quan điểm định hướng, mục tiêu, yêu cầu đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội của nước ta như sau:

3.1. Quan điểm

Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Gắn các chính sách an sinh xã hội với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội.

Không ngừng đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề, điều kiện vật chất, tài chính làm bệ đỡ cho cho hệ thống an sinh xã hội.

Chọn phát triển mô hình an sinh xã hội dựa trên quan điểm của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) với các bộ phận cấu thành là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Đây là mô hình phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta coi: con người là động lực, mục tiêu của sự phát triển.

Từng bước xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách an sinh xã hội mang tính toàn dân, mở rộng khả năng tiếp cận và diện bao phủ, bảo đảm người dân có mức sống tối thiểu, có khả năng liên kết, chống đỡ thành công trước rủi ro.

Chú trọng phát triển hệ thống an sinh xã hội đối với khu vực nông thôn, dân tộc thiểu số, các đối tượng bị tác động bởi cải cách kinh tế và xã hội, như lao động di cư, người thuộc diện thu hồi đất, bị tác động bởi khủng hoảng, người có công, trẻ em, người già, người tàn tật...

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện an sinh xã hội, đồng thời mở rộng sự tham gia của cộng đồng xã hội vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội dưới hình thức xã hội hóa.

Từng bước phát triển các chính sách an sinh xã hội với nội dung, cách tiếp cận và chuẩn mực quốc tế; huy động sự liên kết, hợp tác khu vực và quốc tế thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người lao động trong bối cảnh di chuyển lao động quốc tế ngày càng mạnh mẽ.

3.2. Mục tiêu, yêu cầu

Bảo đảm để mọi người dân có quyền và được tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, trong đó nhấn mạnh tính chia sẻ, tương trợ trong nội bộ và giữa các nhóm dân cư trong xã hội, hướng đến bảo đảm nhu cầu tối thiểu thông qua việc tổng hợp và tái phân phối nguồn lực.

Bảo đảm nguyên tắc công bằng và bền vững của hệ thống an sinh xã hội, về lâu dài cần gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng góp với thụ hưởng, khuyến khích mọi người dân tham gia.

Tăng cường trách nhiệm của các chủ thể, khuyến khích mọi lực lượng xã hội tham gia xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội.

4. Những giải pháp trọng tâm để đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội

Thứ nhất, thống nhất và từng bước nâng cao mức độ an sinh xã hội trong toàn xã hội.

Nhanh chóng thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau dành cho đối tượng khác nhau, như cán bộ công chức, viên chức và người lao động ngoài nhà nước, lao động nông thôn thành một chế độ chung, nhằm xóa bỏ sự khác biệt giữa các khu vực, các đối tượng thụ hưởng bảo hiểm. Để thực hiện mục tiêu này, cần giải quyết hai vấn đề chủ yếu sau: (1) Chính quyền các cấp phải chủ động điều chỉnh thích hợp về lợi ích để hướng tới hình thành chế độ an sinh xã hội thống nhất trong phạm vi cả nước; (2) Sau khi thực hiện chế độ an sinh xã hội thống nhất, phải bảo đảm mức thụ hưởng an sinh xã hội vốn khá cao ở khu vực nhà nước không bị cắt giảm.

Thứ hai, ưu tiên phát triển sự nghiệp an sinh xã hội nông thôn và cho người lao động ngoài khu vực nhà nước.

Về xây dựng chế độ, hệ thống an sinh xã hội nông thôn và cho người lao động ngoài doanh nghiệp nhà nước gồm ba nội dung chủ yếu: một là, chế độ bảo hiểm xã hội cộng đồng nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu, bảo đảm đời sống cơ bản của người có thu nhập thấp; hai là, chế độ y tế cộng đồng, nhằm giải quyết vấn đề khám, chữa bệnh; ba là, chế độ bảo hiểm hưu trí, nhằm bảo đảm cuộc sống cho người cao tuổi. Hiện nay, chế độ bảo đảm mức sống tối thiểu đã được xây dựng, bước tiếp theo là mở rộng diện bao phủ, đáp ứng yêu cầu của đa số nhân dân. Đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa mức bảo đảm đời sống tối thiểu ở thành thị và nông thôn, giữa người lao động trong khu vực nhà nước và người lao động ở khu vực ngoài nhà nước.

Thứ ba, xây dựng hệ thống bảo hiểm hưu trí nhiều tầng và nhiều trụ cột

Để ứng phó với tình trạng già hóa dân số toàn cầu, Báo cáo "Phòng chống nguy cơ già hoá: chính sách bảo vệ người cao tuổi và thúc đẩy tăng trưởng" của Ngân hàng Thế giới năm 2005 đã đề ra chế độ bảo đảm dưỡng lão nhiều tầng bậc. Việt Nam có thể tham khảo chế độ bảo đảm dưỡng lão này để xây dựng hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng.

Để chủ động ứng phó với tình trạng già hóa dân số, cùng với biện pháp nêu trên, có thể xem xét điều chỉnh tuổi nghỉ hưu và thời hạn đóng bảo hiểm. Cần thực hiện nghiêm tuổi nghỉ hưu để giảm số người nghỉ hưu trước tuổi, nâng tuổi nghỉ hưu đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định.

Thứ tư, cải cách đồng bộ, giải quyết các vấn đề bức xúc về y tế

Sở dĩ vấn đề khám chữa bệnh khó và đắt tồn tại dai dằng, một phần là vì nhận thức chưa đầy đủ về tính đặc thù của dịch vụ y tế. Phương thức cải cách chế độ bảo hiểm y tế từ trước đến nay là đẩy bệnh viện ra thị trường, đẩy trách nhiệm huy động vốn của bảo hiểm cho cá nhân người tham gia bảo hiểm. Để tiến hành cải cách y tế thành công, cần nhận thức đúng bản chất, tính đặc biệt của dịch vụ y tế. Khác với các loại hàng hóa thông thường, dịch vụ y tế có ba đặc trưng: một là khó xác định được nhu cầu. Không ai có thể biết bao giờ bị ốm, mắc bệnh gì. Hai là thông tin không cân đối. Dịch vụ y tế là dịch vụ chuyên môn chuyên ngành, giữa bác sĩ và bệnh nhân thông tin không cân đối, giữa các bác sĩ cũng thường có ý kiến khác nhau đối với cách chữa bệnh. Ba là tính rủi ro lớn. Mỗi người chỉ sống một lần, quá trình sống không thể đảo ngược, khó có thể định giá sức khoẻ của con người. Do tính đặc thù như vậy của dịch vụ y tế, nên thị trường không thể phát huy vai trò như đối với các loại hàng hóa thông thường. Vì vậy, vai trò của Nhà nước trong quản lý giá cả, chất lượng dịch vụ, thuốc chữa bệnh, bảo đảm việc cung cấp dịch vụ y tế cho người dân là đặc biệt quan trọng.

Giải pháp then chốt để giải quyết vấn đề khám chữa bệnh khó và đắt là thúc đẩy cải cách thể chế quản lý y tế, khôi phục tính công ích của các cơ sở khám, chữa bệnh, trọng điểm là cải cách mạng lưới cơ sở khám, chữa bệnh công. Điểm then chốt trong cải cách cơ sở khám, chữa bệnh công là bảo đảm tính công ích của bệnh viện, coi trọng kiểm soát giá cả và nâng cao chất lượng dịch vụ. Để khuyến khích bệnh viện và bác sĩ, chỉ dựa vào đạo đức nghề nghiệp là không đủ, mà còn phải xây dựng chế độ khuyến khích, bảo đảm bác sĩ có đãi ngộ tốt. Minh bạch hóa thu nhập của bác sĩ, phản ánh đúng giá trị của bác sĩ, đồng thời tăng cường giám sát quản lý, xử lý nghiêm những hành vi trái quy định.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền để người nghèo nâng cao nhận thức về hoàn cảnh và có quyết tâm thoát nghèo. Thường xuyên xây dựng, triển khai thực hiện các dự án và các chương trình hành động về công tác xóa đói, giảm nghèo. Các doanh nghiệp có chính sách dạy nghề và tạo việc làm ổn định cho người nghèo. Có cơ chế, biện pháp kiểm tra, giám sát bảo đảm mọi nguồn lực dành cho xóa đói, giảm nghèo được sử dụng đúng mục đích.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của an sinh xã hội đối với sự phát triển bền vững đất nước. Ở đây, cần nâng cao nhận thức không chỉ của các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền, mà còn của các tổ chức chính trị - xã hội, của chủ sử dụng lao động và bản thân người lao động, các tầng lớp dân cư trong xã hội về vai trò, vị trí của an sinh xã hội. Để thực hiện giải pháp này, công tác giáo dục, đào tạo, các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng.

Thứ bảy, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội một cách đồng bộ, đồng thời quyết liệt đưa các văn bản pháp luật vào cuộc sống. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, bổ sung, sửa đổi, hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện có trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách bảo đảm an sinh xã hội hiện hành, xem xét điều kiện kinh tế - xã hội và tham khảo kinh nghiệm của các nước. Cần bảo đảm tính đồng bộ giữa các chế độ an sinh xã hội, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm để mọi người dân đều có quyền hưởng an sinh xã hội. Tạo cơ chế để thực thi nghiêm chỉnh và có hiệu quả các chế độ, chính sách an sinh xã hội trên thực tế.

Thứ tám, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là của hệ thống chính trị cấp cơ sở đối với công tác bảo đảm an sinh xã hội. Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về an sinh xã hội, đề ra các quan điểm, chủ trương mới phù hợp với tình hình hiện nay. Nhà nước thực hiện pháp điển hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng bằng việc xây dựng hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch thực hiện an sinh xã hội. Chính quyền cấp cơ sở, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh thực hiện các văn bản pháp luật, các chương trình, kế hoạch an sinh xã hội. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, các thiết chế tự quản của nhân dân đối với việc thực hiện pháp luật, chương trình, kế hoạch an sinh xã hội.

5. Những vấn đề cần tập trung thảo luận, trao đổi

Rất nhiều vấn đề mới và khó liên quan đến an sinh xã hội đang đặt ra, cần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện chiến lược, chính sách an sinh xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Ban Tổ chức Hội thảo đề nghị các đồng chí đại biểu, các nhà khoa học tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, làm rõ nội hàm của phạm trù an sinh xã hội. Kết cấu, các trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội nói chung, của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam nói riêng. Trong đó, thành tố, trụ cột nào là quan trọng nhất cần tập trung xây dựng và củng cố?

Hai là, những quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Ba là, những thành tựu, hạn chế, những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới.

Bốn là, những quan điểm định hướng lớn, những giải pháp đột phá, khả thi cần thực hiện trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện nay và đến năm 2020.

Với những nội dung chính yếu nêu trên, Ban Tổ chức Hội thảo rất mong nhận được nhiều ý kiến của các đồng chí đại biểu, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn nhằm cùng nhau đề xuất kiến nghị ở tầm quan điểm, chủ trương chiến lược, những cơ chế chính sách, hệ thống chế tài, các giải pháp cơ bản mang tính đột phá và khả thi bảo đảm nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả an sinh xã hội ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bảo đảm để đến năm 2020 hệ thống an sinh xã hội cơ bản bao phủ toàn dân./.

       



(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 91

(2) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 75

(3) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 227

(4) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 189, 191

PGS, TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

VIDEO