Thứ Tư, 19/6/2019
EU cải cách trong nỗi lo canh cánh
7/1/2011 9:6' Gửi bài này In bài này

TCCSĐT- Năm 2010 đã khép lại, song những biến động và khó khăn liên quan tới cuộc khủng hoảng nợ công mà Liên minh châu Âu (EU) đang phải vật lộn dường như còn lâu mới tới hồi kết. Mặc dù cuộc khủng hoảng này đặt ra thách thức lớn nhất: đe dọa xóa sổ đồng tiền chung châu Âu (đồng ơ-rô) mới ra đời năm 1999, song nó cũng dẫn tới những thay đổi sâu sắc và các cuộc cải cách đầy tham vọng của liên minh gồm 27 quốc gia này trong một nỗ lực nhằm vượt ra khỏi cảnh ngộ hiện nay.

Cơ chế quản lý yếu kém

Cuộc khủng hoảng nợ công mà EU đang bị sa lầy đã phơi bày những "cái thiếu" và “cái yếu” một cách có hệ thống, trước hết là trong quản lý kinh tế của khối, nhất là việc thiếu cơ quan quản lý tài chính và điều phối kinh tế ở cấp độ liên minh, khi mà các nền kinh tế thành viên đã hội nhập vào nhau rất chặt chẽ. Thế nhưng, cơ quan đầu não của khối này hiện lại có quyền lực rất hạn chế trong việc định hình hoặc chi phối chính sách kinh tế của các nước thành viên. Mặc dù các nước thành viên EU đã ký Hiệp ước Tăng trưởng và Ổn định, trong đó có vấn đề kiểm soát thâm hụt ngân sách và nợ công, song EU lại “quên” nghĩ tới các công cụ thực thi. Đây là lý do giải thích tại sao “sự vung tay quá trán” trong chi tiêu công ở Hy Lạp hoặc Ai-len đã không bị phát hiện trong nhiều năm qua và sự vỡ lở “thủng túi ngân sách” của hai nước này không phải là hiện tượng duy nhất được phát hiện trong thời điểm hiện nay.

Cuộc khủng hoảng nợ công tại một loạt quốc gia EU có thể chưa đến hồi kịch tích nhất, song nó đã chứng tỏ “những biến chứng” đặc biệt nguy hiểm đối với đồng ơ-rô và khu vực sử dụng đồng tiền chung này. Thực tế đã quá rõ ràng: nếu một nước thành viên của Khu vực sử dụng đồng tiền chung ơ-rô (Eurozone) “lâm bệnh”, không chỉ quốc gia đó mà là cả liên minh tiền tệ này có thể... “lâm chung”. Hơn lúc nào hết, các nhà lãnh đạo EU đã nhận ra rằng, ngoài việc cần phải điều phối tốt hơn các chính sách kinh tế cấp liên minh, còn cần tăng cường giám sát thực thi các chính sách này; không thể vừa “đánh trống”, vừa “bỏ dùi” như trong suốt thời gian qua được nữa.

Cũng may là, hồi giữa tháng 12-2010, các nhà lãnh đạo EU đã thông qua một kế hoạch toàn diện về cải cách quản lý kinh tế nhằm ngăn ngừa sự tái diễn khủng hoảng nợ. Như thế, không đến nỗi quá muộn cho dù EU đã “mất bò rồi mới lo làm chuồng”. Chủ tịch EU Héc-man Van Rôm-pơi (Herman Van Rompuy) cho rằng, đây "là lần cải cách lớn nhất của liên minh tiền tệ và kinh tế này kể từ khi đồng ơ-rô ra đời".

Luồng sinh khí mới

Theo kế hoạch cải cách, EU sẽ thành lập Quỹ Ổn định thường xuyên của Eurozone, cho phép khối này có thể nhanh chóng cứu trợ các nước thành viên bị khủng hoảng tài chính. Quỹ này được coi như là cơ chế ứng phó khủng hoảng dài hạn, giúp duy trì ổn định tài chính trong Eurozone. Hiện EU có một quỹ cứu trợ khẩn cấp tạm thời, có tên gọi là Quỹ Ổn định tài chính châu Âu (EFSF) với số tiền 750 tỉ ơ-rô do EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đồng đóng góp. Quỹ sẽ hết hiệu lực vào năm 2013. Kế hoạch cải cách EU cũng chú trọng áp dụng cơ chế mới, theo đó, sẽ theo dõi các xu hướng khủng hoảng trong nền kinh tế châu Âu. Với cơ chế này, dự thảo ngân sách của các nước thành viên EU phải được đưa ra xem xét tại hội nghị vào mùa xuân hằng năm của EU nhằm bảo đảm các cơ cấu tài chính quốc gia không đi chệch hướng quá xa so với các mục tiêu ngân sách của toàn khối. Đây thực sự là bước cải cách mang tính đột phá trong cách thức quản lý kinh tế của EU từ trước tới nay. Bên cạnh các cơ chế giám sát, cứu trợ, EU đặc biệt coi trọng việc áp dụng các biện pháp chống vi phạm quy định ngân sách của khối. Lâu nay, các biện pháp trừng phạt chỉ được áp dụng trong những trường hợp vi phạm quy định về mức trần thâm hụt ngân sách nhà nước, thì nay chúng sẽ có hiệu lực đối với tất cả các chính sách kinh tế được xem là "nguy hiểm".

…Và lời cảnh báo xác đáng

Về cách thức quản lý nền kinh tế, EU có xu hướng dựa vào sự can thiệp của chính quyền hơn là bỏ mặc nền kinh tế cho các lực lượng thị trường thao túng. Lâu nay, các chính phủ châu Âu giữ vai trò lớn hơn trong quản lý kinh tế so với ở Mỹ. Giữa hai bờ Đại Tây Dương có sự khác nhau về tư tưởng kinh tế: Trong khi Mỹ là một nền kinh tế thị trường tự do điển hình với ít sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động thị trường, thì phần lớn các quốc gia châu Âu lại chọn mô hình kinh tế thị trường xã hội - một sự kết hợp giữa cạnh tranh tự do với quản lý của chính quyền. Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã giúp EU thêm tin tưởng vào mô hình kinh tế của mình, vì chính sự quản lý lỏng lẻo các thị trường tài chính của Oa-sinh-tơn đã dẫn tới tai họa này.

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường xã hội của EU còn lâu mới được coi là hoàn hảo, và cuộc khủng hoảng nợ công là bằng chứng rõ ràng cho thấy mô hình này không bền vững. Mô hình kinh tế thị trường xã hội của châu Âu nổi tiếng về các trợ cấp xã hội hào phóng. Số tiền mà các nước EU chi cho phúc lợi xã hội chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) so với Mỹ. Phúc lợi xã hội cao có thể giúp bảo đảm sự công bằng, nhưng tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nếu phúc lợi quá lớn, vì nó sẽ làm tăng gánh nặng thuế. Trong nhiều năm qua, nền kinh tế của EU đã tăng trưởng với tốc độ tương đối chậm. Nếu không có đột phá kinh tế, khối này sẽ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hệ thống phúc lợi xã hội, và nhãn tiền chính là hình ảnh một châu Âu chào đón năm mới 2011 trong “núi nợ” khổng lồ. Đối mặt với tình trạng dân số già, nền kinh tế thị trường xã hội của châu Âu cần phải được điều chỉnh và cuộc khủng hoảng nợ công có lẽ là một lời cảnh báo xác đáng nhất.

Mặc dù vẫn trong nỗi lo canh cánh, song với các dự định cải cách triệt để kể trên, EU dường như đang dần tự tin, tìm lại vị thế của mình trên trường quốc tế. Có lẽ đó sẽ không phải là mục tiêu xa vời, nếu EU biết phát huy các thế mạnh nội lực: nền tảng an ninh, chính trị ổn định, hệ thống bảo hiểm xã hội khá hoàn chỉnh và chất lượng cuộc sống cao, nhất là khi chỉ có gần 7% dân số thế giới mà lại chiếm tới 22% GDP toàn cầu./.

 

Quế Anh

Video