Thứ Ba, 13/11/2018
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV
8/11/2018 22:49' Gửi bài này In bài này
Toàn cảnh Quốc hội. Ảnh: TTXVN

Quốc hội thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, sáng 08-11, với 447/450 đại biểu có mặt tán thành, chiếm 92,16%, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.

Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tạo chuyển biến thực chất hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Các mục tiêu tiếp theo, chú trọng phát triển y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật; quyết liệt phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

12 chỉ tiêu chủ yếu được đề ra là: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,6% - 6,8%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7% - 8%; Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33% - 34% GDP; Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1% - 1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% - 62%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 24% - 24,5%; Số giường bệnh/một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 27 giường; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 88,1%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 89%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,85%.

Về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2019, Quốc hội cơ bản tán thành nhiệm vụ, giải pháp do Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình và các cơ quan của Quốc hội kiến nghị trong các báo cáo thẩm tra, báo cáo giám sát chuyên đề. Quốc hội đề nghị các cơ quan thực hiện tốt các yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp được nêu tại Kết luận số 37-KL/TW, ngày 17-10-2018, của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2018; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019.

Đồng thời, Quốc hội yêu cầu các Chính phủ và các cơ quan tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp: Tăng cường năng lực, chủ động, phân tích, dự báo, theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, trong nước để chủ động có đối sách phù hợp và kịp thời; thực hiện đồng bộ, quyết liệt các đột phá chiến lược; thực hiện quyết liệt, hiệu quả các Nghị quyết Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; tiếp tục cơ cấu lại thu, chi ngân sách; quản lý, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài nguyên, tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động trong phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân; đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và quản lý hiệu quả Quỹ bảo hiểm y tế; tăng cường công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể; bảo tồn, gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc thiểu số; thực hiện nghiêm việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để bảo vệ đất nước....

Hoàn thiện thể chế quản lý thuế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh

Sau khi biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, các đại biểu Quốc hội đã nghe Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Dự kiến, dự án Luật quản lý thuế (sửa đổi) trình Quốc hội khoá XIV xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 và thông qua tại Kỳ họp thứ 7.

Tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập

Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày nêu rõ Luật quản lý thuế được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2007, đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các năm 2012, 2014 và năm 2016.

Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật quản lý thuế đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy hiên, công tác quản lý thuế nói chung và quy định pháp luật về quản lý thuế nói riêng cũng có những hạn chế bất cập nhất định như việc thường xuyên bổ sung, sửa đổi văn bản luật đã ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế; một số văn bản pháp luật khác cũng có nội dung quy định về quản lý thuế, vì vậy chưa tạo ra sự thống nhất trong các văn bản quy định pháp luật.

Phạm vi điều chỉnh của Luật quản lý thuế chưa bao quát hết các khoản thu khác trong Ngân sách Nhà nước, mặt khác hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đình hoặc khu vực kinh tế phi chính thức chưa được quy định đầy đủ...

Qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.

Mục đích việc xây dựng Luật quản lý thuế (sửa đổi) hoàn chỉnh, toàn diện nhằm mục đích tạo cơ sở cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cho cơ quan quản lý thuế thực hiện nghiêm quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định pháp luật, tích cực phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Dự thảo Luật gồm 17 chương, 152 điều, với các nội dung chính quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; nội dung, nguyên tắc quản lý thuế và các hành vi bị cấm; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan đến quản lý thuế; về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; về các biện pháp xử lý nợ đọng thuế: khoanh nợ, xóa nợ, miễn tiền thuế, tiền chậm nộp; về áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử; về thanh tra, kiểm tra thuế và các giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.

Dự thảo Luật cũng quy định các nội dung liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế; quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử...

Bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế

Đồng thời, các đại biểu Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Theo báo cáo thẩm tra, Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội nhận định hồ sơ trình dự án Luật đã bảo đảm yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thống nhất với tên gọi của Luật là Luật quản lý thuế (sửa đổi), vì phạm vi sửa đổi lần này khá rộng, bổ sung nhiều nội dung mới phức tạp, quan trọng.

Tuy nhiên, để có cơ sở thẩm tra, đánh giá và để các đại biểu Quốc hội có căn cứ, xem xét cho ý kiến đối với từng nội dung, đề nghị Chính phủ cần thuyết minh rõ hơn về cơ sở, nguyên nhân và lý do cần bổ sung các quy định mới, bỏ những quy định không còn phù hợp trong Luật hiện hành.

Về tính cụ thể của dự án Luật, Ủy ban Tài chính, ngân sách nhận thấy, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng 1/4 số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 Điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi Tờ trình của Chính phủ không giải thích lý do. Do vậy, đề nghị Chính phủ cần giải trình rõ lý do cụ thể.

Về nguyên tắc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị nghiên cứu bổ sung việc áp dụng nguyên tắc “giao dịch độc lập” trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết nộp thuế tương xứng với giá trị tạo ra tại Việt Nam đồng thời, bổ sung vào Điều 49 và Điều 50 theo nguyên tắc quản lý thuế căn cứ vào bản chất và nguyên tắc giao dịch độc lập.

Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị cần bố cục, sắp xếp theo từng nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuế, người nộp thuế.

Ngoài ra, dự thảo Luật chưa quy định hành vi bị cấm đối với cơ quan, tổ chức liên quan, do đó cần nghiên cứu, bổ sung nội dung này trong dự án Luật.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ trong việc quản lý thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung những nội dung quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm của các bộ, ngành trong quản lý thuế về chống chuyển giá, gửi giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng, truy thu thuế, cưỡng chế về thuế.

Về quyền của người nộp thuế, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đề nghị bổ sung quy định quyền của người nộp thuế được nhận biên bản của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền khi kiểm tra, đối chiếu nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi thanh tra, kiểm toán công tác quản lý thu Ngân sách Nhà nước của cơ quan quản lý thuế.

Về xử phạt vi phạm hành chính, Ủy ban Tài chính, Ngân sách cho rằng dự án Luật đã bỏ quy định “về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế” (Điều 112) và “xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với công chức quản lý thuế” (Điều 113) trong Luật hiện hành, tuy nhiên trong Tờ trình của Chính phủ không làm rõ lý do bỏ các quy định này, trong khi vẫn giữ quy định “về hành vi vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân có liên quan” (Điều 146) là chưa bảo đảm tính thống nhất và công bằng trong xử lý vi phạm về thuế giữa các đối tượng...

Cũng trong phiên họp sáng nay, các đại biểu Quốc hội đã làm việc tại tổ, thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Kiến trúc.

Phân tầng chính sách giáo dục, tránh tư duy bao cấp

Ngày 08-11, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Giáo dục (sửa đổi). So với dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5, dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) bổ sung 2 nhóm chính sách liên quan đến miễn giảm học phí và nâng chuẩn trình độ giáo viên mầm non.

Đánh giá đây là những quy định tiến bộ, ưu việt, song nhiều ý kiến cho rằng để bảo đảm tính khả thi, các chính sách cần có sự phân tầng trong thực hiện, tránh tư duy bao cấp.

Quy định rõ lộ trình thực hiện

Theo dự thảo Luật, Chính phủ quy định lộ trình thực hiện việc không thu học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh trung học cơ sở trường công lập (hiện nay Nhà nước mới chỉ thực hiện miễn học phí đối với giáo dục tiểu học); hỗ trợ tiền đóng học phí cho trẻ em mầm non 5 tuổi cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, học sinh tiểu học, trung học cơ sở trường tư thục.

Lý giải việc bổ sung chính sách mới này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cho rằng, hiện nay khung học phí mầm non, phổ thông quy định đối với các trường công lập khá thấp (khu vực thành thị từ 60.000 - 300.000 đồng; khu vực nông thôn từ 30.000 - 120.000 đồng; khu vực miền núi từ 8.000 - 60.000 đồng). Các cơ sở giáo dục ngoài công lập tự quyết định mức thu học phí.

Tuy nhiên, đến nay, Nhà nước mới chỉ thực hiện miễn học phí đối với giáo dục tiểu học, còn giáo dục trung học cơ sở, trẻ em mầm non 5 tuổi (học sinh thuộc diện phổ cập) vẫn chưa được miễn học phí. Điều này gây khó khăn cho việc huy động trẻ đến trường, nhất là ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới cũng đã có chính sách miễn học phí đối với các cấp học này.

Ngoài kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và chi thực hiện chính sách cho học sinh miễn, giảm học phí theo quy định hiện nay, khi thực hiện chính sách này, hàng năm tổng kinh phí ngân sách chi thêm để hỗ trợ thực hiện là 4.730 tỷ đồng. Theo dự kiến, nguồn kinh phí thực hiện cân đối được trong tổng ngân sách chi cho giáo dục đào tạo.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Phan Thanh Bình đánh giá chính sách trên đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về phổ cập, xã hội hóa giáo dục; thúc đẩy, khuyến khích các loại hình trường dân lập, tư thục phát triển để tham gia thực hiện giáo dục phổ cập; thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với người học diện phổ cập, đồng thời tạo sự bình đẳng giữa trường công lập, trường dân lập, tư thục.

Để chính sách ưu việt này được triển khai khả thi, có hiệu quả, Chủ nhiệm Phan Thanh Bình đề nghị quy định rõ hơn về lộ trình thực hiện chính sách, trong đó đặt ra yêu cầu, thời điểm và điều kiện triển khai thực hiện chính sách học phí đối với người học thuộc diện phổ cập giáo dục này.

Cho ý kiến về dự thảo Luật tại Phiên họp thứ 27 Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển lưu ý đến khả năng thực hiện và cho rằng chính sách hỗ trợ đối với giáo dục nên có sự phân tầng, tránh tư duy bao cấp.

Phó Chủ tịch Quốc hội nêu thực tế, ở thành phố lớn, có những trường mức đóng góp của mỗi học sinh lên đến 7 - 8 triệu đồng/tháng mà còn phải xếp hàng mới được tuyển vào trường; có những trường mỗi năm nhận 1.200 hồ sơ mà chỉ tuyển 260 học sinh.

Vậy “Có nên áp dụng chính sách miễn/hỗ trợ học phí đối với những trường như vậy hay không? Nên chăng, chỉ miễn học phí cho học sinh trung học cơ sở ở vùng sâu, vùng xa, nông thôn...”, Phó Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, đồng thời nhấn mạnh, mở rộng đối tượng miễn học phí như trong dự thảo Luật thì “đại trà quá,” vi phạm nguyên tắc thị trường và cần có chính sách huy động sự đóng góp của toàn dân.

Trong điều kiện nguồn lực ngân sách hạn hẹp, khi chính sách được triển khai đại trà sẽ rất khó khăn. Nhiều ý kiến cho rằng chính sách học phí chưa nên mở rộng đối với khối dân lập, tư thục, mà cần có sự cân nhắc trên cơ sở đối chiếu với nguồn lực hiện nay.

Bên cạnh đó, phải có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia phát triển giáo dục, có cơ chế tài chính rõ ràng chứ không phải một cách “xài tiền ngân sách”.

Chú trọng chất lượng đào tạo

Một chính sách khác được bổ sung trong dự thảo Luật lần này là nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm.

Theo cơ quan soạn thảo, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và quốc tế, phần lớn các nước phát triển đều yêu cầu có trình độ đào tạo đại học hoặc sau đại học (thạc sỹ hoặc chứng chỉ sau đại học) đối với giáo viên Mầm non.

Bên cạnh đó, hiện nay, tổng số giáo viên mầm non (bao gồm cả nhà trẻ và mẫu giáo) là 337.488 giáo viên, trong đó số lượng giáo viên đạt chuẩn trình độ trung cấp trở lên là 332.403 giáo viên (chiếm 98,5%).

Nếu tính đạt trình độ từ cao đẳng trở lên thì số lượng giáo viên mầm non chưa đạt chuẩn là 107.150 (chiếm 33,8%).

Liên quan đến nguồn lực thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết tổng kinh phí đào tạo nâng chuẩn là khoảng 857,2 tỷ đồng, nếu thực hiện theo lộ trình 5 năm thì mỗi năm chi khoảng 171,4 tỷ đồng và ngân sách có thể cân đối.

Theo Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, khi nâng chuẩn giáo viên thì trường trung cấp sư phạm không còn nữa qua việc sáp nhập. Hiện số giáo viên được đào tạo từ các trường cao đẳng và đại học có khoa mầm non cũng rất nhiều. Trong 6 năm có thể nâng chuẩn từ trung cấp lên cao đẳng, thậm chí là đại học. Chính phủ đã có Đề án đào tạo, bồi dưỡng để nâng chuẩn.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Phan Thanh Bình cho biết Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành với việc nâng trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên như đề xuất của Chính phủ.

Tuy nhiên, việc chuẩn hóa đội ngũ không chỉ ở tiêu chí trình độ đào tạo, mà quan trọng là chất lượng đào tạo và năng lực phù hợp với vị trí việc làm của nhà giáo. Vì thế, Ban soạn thảo cần xác định phương thức đào tạo nâng chuẩn, các nguồn lực thực hiện chính sách để bảo đảm tính khả thi; đồng thời đánh giá tác động đối với các trường trung cấp sư phạm và số giáo sinh sư phạm đang theo học hệ trung cấp khi chính sách này được thực hiện./.

BTV/TTXVN

Video