Thứ Năm, 18/10/2018
Vai trò của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương thế kỷ XXI
7/2/2018 23:28' Gửi bài này In bài này
Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 50 (AMM) ngày 5-8 - Nguồn: baoquocte.vn

Với những thành tựu to lớn mà ASEAN đạt được, hình ảnh và vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định, được cộng đồng quốc tế công nhận là một trong những tổ chức đa phương thành công nhất. Có thể nhận diện ở một số điểm sau đây:

Thứ nhất, ASEAN là đối tác không thể thiếu trong cơ chế hợp tác của các nước lớn cũng như các tổ chức kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong quan hệ với các nước lớn, ASEAN là đối tác quan trọng hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là khu vực phát triển năng động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI. Mỹ - đối tác lớn của khu vực, luôn coi trọng và ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương, cam kết tiếp tục hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng, khẳng định ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ, tiếp tục triển khai Sáng kiến kết nối ASEAN - Mỹ. Với Trung Quốc, ASEAN được coi là khu vực quan trọng để Trung Quốc thực hiện chiến lược cân bằng với Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương. Trung Quốc khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, cam kết hỗ trợ ASEAN triển khai tầm nhìn Cộng đồng 2025 và các mục tiêu về thu hẹp khoảng cách phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng cường kết nối và hội nhập khu vực. Trong quan hệ “Đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc”, hai bên khẳng định tăng cường liên kết khu vực, trong đó có việc xác định những ưu tiên chung trong Sáng kiến “Vành đai, con đường” của Trung Quốc và Kế hoạch kết nối tổng thể ASEAN (MPAC).

Ngoài ra, ASEAN hiện còn thu hút sự chú ý của các quốc gia khác, như Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ và Hàn Quốc. Với chính sách “Đàn chim nhạn bay hướng về châu Á”, Nhật Bản đã thành công trong việc thiết lập quan hệ kinh tế với các nước ASEAN trong thế kỷ XX và đang thúc đẩy hơn nữa trong thế kỷ XXI. Việc thực hiện chính sách “Hành động phía Đông” của Ấn Độ và chính sách “Quan tâm đến châu Á nhiều hơn” của Ô-xtrây-li-a, cũng là những minh chứng sống động thể hiện tầm quan trọng đang lên của ASEAN trong thế kỷ XXI.

Trong cơ chế hợp tác Đông Á, do trọng tâm của nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển dần về châu Á - Thái Bình Dương nên vai trò và ý nghĩa của Cộng đồng Đông Á(1) ngày càng gia tăng. Được hình thành vào năm 2012, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) với sự tham gia của 10 nước thành viên ASEAN và 6 quốc gia mà ASEAN đã ký kết (Ô-xtrây-li-a, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Niu Di-lân), nhằm hướng tới mục tiêu hình thành FTA Đông Á (EAFTA) và khởi đầu cho Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA). Trọng tâm của RCEP là sự tham gia sâu rộng của ASEAN và các đối tác đối thoại dựa trên sự cải thiện đáng kể các FTA hiện có giữa các bên. Mặt khác, cách tiếp cận “Con đường ASEAN” trong RCEP đã chứng minh đây là cơ chế xây dựng sự đồng thuận tốt nhất ở Đông Á. RCEP không mang nặng tính chính trị và đề cao vai trò trung tâm của ASEAN. Trong khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thường được coi là một công cụ để kiềm chế Trung Quốc trong chiến lược “xoay trục sang châu Á” của Mỹ, RCEP được xem như mở rộng mô hình FTA ASEAN+1 trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư. Tất cả các cường quốc khu vực, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ đều đánh giá tích cực về vai trò trung tâm của ASEAN, ít nhất là trong hội nhập kinh tế khu vực.

Ở quy mô khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một số quốc gia ASEAN cũng là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Đây là diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. ASEAN được coi là “hạt nhân” xây dựng APEC - một cơ chế quan trọng của cấu trúc châu Á - Thái Bình Dương.

Thứ hai, hầu hết các nước lớn ở châu Á - Thái Bình Dương đều tham gia các cơ chế của ASEAN, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị ASEAN với các đối tác (ASEAN+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (Đối thoại Sangri La),... và coi đây là “bộ khung” để xây dựng cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Ngay khi ASEAN xúc tiến các cơ chế hợp tác đa phương ở khu vực, các quốc gia và tổ chức quốc tế đều ủng hộ một cách khá tích cực. Các cơ chế của ASEAN đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu đặt ra đối với Đông Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung. Các cơ chế của ASEAN là sự lựa chọn tốt nhất cho các nước lớn với tham vọng kiềm chế các đối thủ của mình.

Diễn đàn khu vực ASEAN - cơ chế hợp tác an ninh đa phương đầu tiên ở châu Á - Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1993, nhằm mục tiêu thúc đẩy cơ chế đối thoại và tham vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu vực, xây dựng lòng tin và phát triển ngoại giao phòng ngừa trong bối cảnh xung đột trong khu vực khó giải quyết. Diễn đàn này ra đời đã đáp ứng được nhu cầu rất lớn của các nước nhằm đối phó với những thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai... đồng thời cũng là nơi để các nước lớn có tiếng nói, bày tỏ quan điểm, lập trường và thể hiện vai trò của mình trong các vấn đề khu vực. Nhờ đó, ASEAN đã quy tụ được sự quan tâm, can dự của tất cả các nước lớn trong và ngoài khu vực, cũng như nhiều tổ chức khu vực, toàn cầu và trở thành đối tác không thể thiếu của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ra đời vào năm 2006, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) đánh dấu sự khởi đầu của cơ chế hợp tác quốc phòng chính thức, đầy đủ ở cấp Bộ Quốc phòng. Cơ chế này tạo khuôn khổ cho đối thoại và tham vấn cấp Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề chiến lược, quốc phòng - an ninh và là nền tảng để thúc đẩy hợp tác trên thực tế giữa lực lượng vũ trang các nước ASEAN. Cơ chế ADMM coi trọng hợp tác thực chất nhằm tạo ra khả năng, sức mạnh chung để đẩy lùi nguy cơ xung đột, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Cơ chế ADMM+ lần đầu tiên được tổ chức thành công tại Việt Nam vào năm 2010, với sự tham gia của Bộ trưởng Quốc phòng của 18 nước (10 nước ASEAN và 8 nước đối tác, đối thoại) nhằm bàn thảo về các biện pháp duy trì hòa bình, đã trở thành sự kiện quốc tế hiếm có trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, ADMM+ được đánh giá là cơ chế hợp tác có hiệu quả làm nên vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay.

Cơ chế hợp tác ASEAN+1 với 10 đối tác đối thoại chính thức là cơ chế lâu đời nhất, đầy đủ nhất, quan trọng và hiệu quả nhất của ASEAN trong việc xử lý quan hệ với từng nước lớn, từng đối tác. Thông qua cơ chế này, các nước ASEAN - một tập hợp của các nước vừa và nhỏ - không chỉ đối thoại một cách bình đẳng, ngang hàng với các nước lớn, mà còn tranh thủ được nhiều nguồn lực cho phát triển trên hầu hết các lĩnh vực, như thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, giáo dục, hỗ trợ kỹ thuật, chống khủng bố...

Là cơ chế đối thoại và hợp tác giữa ASEAN với ba quốc gia lớn ở Đông Bắc Á (gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), cơ chế ASEAN+3 được thành lập vào năm 1997, ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á. Thành công nhất của cơ chế này là Sáng kiến Chiềng Mai, tạo lập một quỹ tài chính chung với sự đóng góp tài chính chủ yếu của ba đối tác Đông Bắc Á, đặc biệt là Hàn Quốc, nhằm trợ giúp cho các nước Đông Nam Á trong cải cách tài chính, ngân hàng và phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997.

Hội nghị cấp cao Đông Á là diễn đàn được lãnh đạo của 16 quốc gia Đông Á và khu vực lân cận tổ chức mà ASEAN đóng vai trò trung tâm. Mục tiêu của EAS là tăng cường môi trường hòa bình, ổn định và củng cố mối quan hệ hợp tác tin cậy giữa các nước thành viên trong lĩnh vực an ninh - chính trị; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Á theo chiều hướng hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ cả về song phương và đa phương.

Ngoài ra, ASEAN cũng chú trọng các cơ chế an ninh khu vực khác, như: Đối thoại Shangri-La, Hội thảo An ninh châu Á - Thái Bình Dương (APSEC), Thỏa thuận Quốc phòng năm nước (FPDA)(2),... góp phần nâng tầm vị trí của ASEAN đối với an ninh khu vực. Hiện nay, các cơ chế này tiếp tục kiểm soát những bước đi tiếp theo của ASEAN, đặc biệt trong việc ASEAN thúc đẩy mở rộng liên kết và kết nối ra toàn khu vực Đông Á nói riêng cũng như châu Á - Thái Bình Dương nói chung thông qua các sáng kiến khu vực.

Thứ ba, khả năng giải quyết những vấn đề xuyên quốc gia của ASEAN. Tuyên bố Băng Cốc (năm 1967) và Tuyên bố Ba-li (năm 1976) đã xác lập các nguyên tắc nền tảng cho quan hệ hợp tác bền vững của ASEAN. Đặc biệt, Tuyên bố Ba-li đã dành riêng chương IV quy định sự ra đời một cơ chế chung nhằm giải quyết các tranh chấp trên mọi lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế, xã hội... của ASEAN. Trên cơ sở các Tuyên bố của ASEAN, năm 2010, ASEAN đã ký Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN phù hợp với bối cảnh mới. Đây là một văn kiện quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý theo quy định của Hiến chương ASEAN. Nghị định thư này giải quyết các tranh chấp nảy sinh do sự nhận thức khác nhau trong quá trình thực hiện Hiến chương ASEAN và các công cụ của Hiến chương, với bốn phương thức giải quyết tranh chấp (tham vấn, môi giới, trung gian, hòa giải), trên cơ sở công bằng, hợp lý. Trong đó, ASEAN đóng vai trò trung gian hòa giải, làm dịu các bất đồng và căng thẳng về chính trị - an ninh, chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là các tranh chấp trên biển giữa một số thành viên trong khu vực với nhau và với Trung Quốc, giữa Trung Quốc và Nhật Bản, giữa Nhật Bản và Hàn Quốc.

Một trong những vấn đề mà ASEAN đang phải đối diện đó là tranh chấp trên Biển Đông - “điểm nóng” về an ninh và ổn định của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng đến nhiều mối quan hệ song phương trong khu vực, mà còn gây căng thẳng cho mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN.

Trước thực tế đó, ASEAN đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông hoặc xây dựng lòng tin giữa các bên nhằm kiềm chế xung đột tiềm tàng, ngăn chặn đụng độ quân sự làm phức tạp thêm tình hình, chủ yếu thông qua thương lượng, đàm phán. Một số văn bản điều chỉnh hành vi của các quốc gia trên Biển Đông đã được xây dựng, như: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC, năm 1976), Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ, năm 1995) và Tuyên bố Ma-ni-la năm 1992 (tuyên bố đầu tiên thể hiện lập trường chung của các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông). Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC, ngày 04-11-2002) được coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, đồng thời cho thấy vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp trong khu vực. Trước khi DOC ra đời, ASEAN có ý tưởng xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). ASEAN đã thông qua biện pháp ngoại giao, cụ thể là qua các cuộc thương lượng đa phương giữa các quốc gia trong khu vực với nhau và với Trung Quốc để có thể đưa ra một Bộ luật về ứng xử trên Biển Đông, giúp các quốc gia duy trì vị trí của họ trên Biển Đông. Tuy nhiên, quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên đến nay vẫn chưa đạt được kết quả. Hiện nay, ASEAN đang nỗ lực cùng Trung Quốc sớm hoàn thành COC. Biển Đông trở thành vấn đề an ninh thiết thực của khu vực, luôn là vấn đề ưu tiên, nổi trội trong chương trình nghị sự của ARF, ADMM+ hoặc các thể chế an ninh đa phương khác ở châu Á - Thái Bình Dương.

Rõ ràng, trong bối cảnh hiện nay, ASEAN có khả năng giải quyết những vấn đề xuyên quốc gia của khu vực mà một nước đơn lẻ không làm được. Tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, an ninh, an toàn hàng hải, chủ nghĩa khủng bố, kiểm soát vũ khí, buôn bán người và ma túy, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, dịch bệnh, di cư và tị nạn, tình trạng mất cân đối tài chính và thương mại quốc tế,... là những vấn đề mang tính khu vực, thậm chí ảnh hưởng đến liên khu vực. Do bản chất và quy mô vấn đề ở tầm khu vực nên việc giải quyết phải thông qua các cơ chế cấp khu vực.

Thứ tư, ASEAN được lựa chọn là cơ chế trung gian trong giải quyết các vấn đề mang tính khu vực. Từ rất sớm, nhận thức rõ tầm quan trọng không thể thiếu đối với các nước lớn cũng như các đối tác trong và ngoài khu vực, ASEAN đã nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với các nước lớn và các đối tác dưới nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tìm cách “chèo lái” quan hệ với các nước lớn theo hướng có lợi nhất cho ASEAN nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Trung lập (ZOPFAN, năm 1971), thể hiện rõ định hướng trung lập của ASEAN, khi định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN là xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề trung lập hóa mà ZOPFAN đưa ra tại thời điểm đó đã đáp ứng được nhiệm vụ giữ nguyên trạng tình hình ở Đông Nam Á, ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc mới xuống khu vực, buộc các nước ngoài Đông Nam Á chính thức cam kết không can thiệp vào công việc của khu vực. Trên thực tế, hình thức này cũng dễ chấp nhận đối với các nước ngoài khu vực và ngay cả đối với Liên hợp quốc.

Thực tiễn trong quá trình phát triển của ASEAN cho thấy, ASEAN không ngừng hoàn thiện cơ chế đối thoại với các đối tác, nỗ lực xây dựng một kết cấu khu vực lấy ASEAN làm trung tâm. “Phương cách ASEAN” là dấu ấn đặc trưng của ASEAN mà đến nay chưa tổ chức nào trên thế giới có được. Trong cấu trúc quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN đóng vai trò thúc đẩy triển khai hợp tác quanh trục ASEAN, lấy ASEAN làm nền tảng, làm trung tâm để mở rộng hợp tác. Thông qua các cơ chế đối thoại của ASEAN, các đối tác ở khu vực chấp nhận quy tắc ứng xử của ASEAN, có trách nhiệm duy trì sự phát triển và hòa bình của khu vực, đồng thời mở rộng hợp tác khu vực từ Đông Nam Á ra toàn Đông Á đến châu Á - Thái Bình Dương. Điều này mang lại cho ASEAN uy tín chính trị và cơ hội trở thành một “cộng đồng ngoại giao” tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI. Hiện nay, ASEAN có 10 đối tác đối thoại chính thức, trong đó có 8 quốc gia và 2 tổ chức quốc tế là Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu (EU). Ở mức độ quy chế đối thoại ngành, ASEAN có 2 đối tác đối thoại là Pa-ki-xtan và Na-uy. ASEAN cũng trao quy chế Quan sát viên đặc biệt cho Pa-pua Niu Ghi-nê, đồng thời mời rất nhiều quan chức cấp cao của các nước, các tổ chức quốc tế... tham gia các hoạt động của ASEAN, nhất là những hoạt động cấp cao để tạo dựng uy tín và quảng bá hình ảnh của ASEAN ra bên ngoài. Bên cạnh đó, ASEAN cũng xây dựng thành công quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với nhiều tổ chức ở khu vực và trên thế giới. Trong đó, đáng kể nhất là Đối tác toàn diện ASEAN - Liên hợp quốc, Hội đồng Hợp tác các nước vùng Vịnh (GCC), Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Nhóm Rio và sau này là Cộng đồng các quốc gia Nam Mỹ và Ca-ri-bê, Liên minh Thái Bình Dương. Sau khi Hiến chương ASEAN ra đời và bắt đầu có hiệu lực, cơ cấu tổ chức của ASEAN trở nên chặt chẽ hơn. ASEAN tiếp tục thu hút được sự quan tâm, ủng hộ của các nước. Đến nay, đã có 86 quốc gia ngoài ASEAN cử đại sứ tại ASEAN, trong đó có đại sứ của tất cả các nước lớn.

Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển năng động của châu Á - Thái Bình Dương cho thấy có sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc quyền lực của khu vực. ASEAN đã cải thiện nhanh chóng và mở rộng quan hệ đối thoại chiến lược với các nước lớn cũng như nhiều tổ chức quốc tế khu vực thông qua các cơ chế do ASEAN sáng lập. Với tầm nhìn vượt qua những lợi ích riêng, ASEAN đã và đang thể hiện tiếng nói ngày càng mạnh mẽ, có trách nhiệm đối với những mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Các đối tác của ASEAN trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước lớn đều mong muốn ASEAN phát huy vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như là một động lực chủ chốt trong một cấu trúc khu vực châu Á - Thái Bình Dương./.

-----------------------------------------

(1) bao gồm các nước ở bờ Tây Thái Bình Dương

(2) Niu Di-lân, Ô-xtrây-li-a, Anh, Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a

Trịnh Thị HoaViện Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Video