Thế giới: Vấn đề - Sự kiện
Về cơ chế giám sát hệ thống chính trị ở Trung Quốc
14:46' 13/1/2011


TCCS - Mô hình chính trị của Trung Quốc dù đã có những cải cách, điều chỉnh mạnh mẽ, nhưng vẫn chưa theo kịp xu thế biến đổi mau chóng của đời sống xã hội trong nước và tình hình quốc tế. Trước tình hình đó, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh, cải cách mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của hệ thống chính trị, để đi đến một mô hình chính quyền phù hợp hơn. Trong đó, thay đổi và khoa học hóa cơ chế giám sát hệ thống chính trị cơ sở trở thành hạt nhân quan trọng của cải cách chính trị, tiến đến mục tiêu xây dựng một hệ thống chính quyền loại hình phục vụ ở Trung Quốc hiện nay.

Tăng cường cơ chế giám sát là yêu cầu tất yếu của cải cách chính trị

Là một bộ phận hợp thành quan trọng của toàn bộ sự nghiệp cải cách, cải cách thể chế chính trị cũng phải đi sâu cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Trong đó, 1 trong 7 mặt công tác để cụ thể hóa cải cách chính trị chính là hoàn thiện cơ chế giám sát và kiềm chế, bảo đảm quyền lực do nhân dân giao phó thực sự phục vụ lợi ích của nhân dân (1). Điều đó cho thấy:

Thứ nhất, chế độ giám sát gắn chặt với sự bảo đảm mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, thể hiện bản chất của nền chính trị xã hội chủ nghĩa. Ở Trung Quốc, “Đảng Cộng sản cầm quyền là đảng lãnh đạo và ủng hộ nhân dân nắm lấy quyền lực nhà nước, thực hiện bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ, quản lý dân chủ và giám sát dân chủ...”(2). Nếu giám sát không tốt việc thực thi của “công bộc” - những người do nhân dân bầu ra, thì rất dễ làm cho quyền lực bị tha hóa, từ đó xâm hại và đi ngược lại ý chí của nhân dân. Do đó, chỉ khi quần chúng thực sự có quyền bầu cử, ràng buộc, giám sát và bãi miễn người nắm quyền lực thì người nắm quyền lực mới có trách nhiệm với nhân dân. Như vậy, chế độ giám sát cùng với chế độ bầu cử trở thành hai trụ cột lớn của nền chính trị dân chủ hiện đại.

Thứ hai, chỉ có chế độ giám sát hiệu quả, thực chất mới có thể ngăn chặn được tình trạng lạm dụng chức quyền, hạn chế tham nhũng. Bởi “tất cả những người nắm quyền luôn có xu hướng lạm dụng quyền lực... Muốn ngăn chặn lạm dụng chức quyền thì phải lấy quyền lực để ràng buộc quyền lực”(3).

Thứ ba, chỉ có chế độ giám sát chặt chẽ mới thúc đẩy bộ máy quyền lực công vận hành hiệu quả. Trung Quốc đang quá độ từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại với sự vận hành sôi động của nền kinh tế thị trường, do vậy tăng cường giám sát, nâng cao trình độ quản lý nhà nước hiện đại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.

Những hạn chế chủ yếu của cơ chế giám sát hiện nay

Một là, cơ chế giám sát của hệ thống chính trị còn nhiều bất cập. Sự giám sát của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật đối với các cấp ủy thường mang tính hình thức. Ủy ban Kiểm tra kỷ luật ở mỗi cấp ủy chỉ là một bộ phận và chịu sự giám sát của đảng ủy, làm cho công tác kiểm tra kỷ luật khó có thể thực hiện giám sát hiệu quả đối với đảng ủy, chính quyền cùng cấp. Những vụ án lớn, trọng điểm ở Trung Quốc trong thời gian gần đây đều được phát hiện và xử lý bởi Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương. Điều đó cho thấy, quyền lực của cơ quan giám sát ở địa phương quá hạn hẹp, tính chất “ràng buộc” về chính trị trong khuôn khổ địa phương, ngành, lĩnh vực làm cho hiệu quả công tác giám sát thấp, khó làm hết trách nhiệm. Mặt khác, việc giám sát của cấp dưới đối với cấp trên rất yếu. Đảng viên, quần chúng là chủ thể được quyền giám sát, nhưng họ lại rất khó khăn trong việc thực hiện quyền được biết, quyền phê bình chứ chưa nói đến quyền được bãi miễn đối với những cán bộ có hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước. Những người tố cáo thậm chí còn bị trù dập, tấn công, vô hiệu hóa. Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc, làm trái kỷ luật đảng thì bị kỷ luật. Nhưng, thực tế cho thấy, có sự lẫn lộn giám sát trong đảng với giám sát tư pháp, nên đảng viên làm trái kỷ luật đảng lại không bị xử phạt, bởi còn phải xem đảng viên đó có vi phạm pháp luật hay không. Thậm chí, một số trường hợp, khi cơ quan tư pháp tiến hành xử lý cán bộ lãnh đạo phạm tội thì cơ quan giám sát của đảng lại can thiệp.

Đảng Cộng sản cầm quyền là đảng lãnh đạo và ủng hộ nhân dân nắm lấy quyền lực nhà nước, thực hiện bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ và giám sát dân chủ. Chỉ có chế độ giám sát chặt chẽ mới thúc đẩy bộ máy quyền lực công vận hành hiệu quả.

Hai là, chưa thực sự phát huy hết chức năng, quyền hạn của cơ quan giám sát như Đại hội Đại biểu nhân dân (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) và Chính hiệp (tương tự Mặt trận Tổ quốc). Đại hội đại biểu nhân dân là cơ quan quyền lực cao nhất thực hiện sự giám sát toàn diện đối với “nhất phủ, lưỡng viện” (chính phủ hoặc chính quyền địa phương, tòa án, viện kiểm sát). Nhưng do nhiều nguyên nhân như thể chế, cơ chế và quan niệm, nên vẫn còn nhiều tồn tại trong cơ chế giám sát như: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và các cấp mỗi năm chỉ họp một lần, do vậy có rất ít thời gian, điều kiện giám sát đối với cơ quan hành chính, việc giám sát vẫn chỉ dừng lại ở mức độ sự việc xảy ra trước, mới thanh tra kiểm tra, chưa có tính ngăn ngừa. Sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân đối với cấp ủy còn hạn chế. Nhiều người cho rằng, tăng cường sự giám sát đã làm suy giảm sự lãnh đạo của đảng, là “gây phiền phức”, do đó họ không coi trọng, không tự giác chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân. Ngay cả Đại hội đại biểu nhân dân nhiều khi không làm tròn trách nhiệm, sự ràng buộc quyền lực và lợi ích đối với cơ quan hành chính các cấp tạo ra “khoảng trống” trong quá trình giám sát.

Ba là, cơ chế giám sát từ quần chúng chưa hoàn thiện. Giám sát quần chúng là việc cá nhân hoặc nhóm công dân thực hiện quyền phê bình, kiến nghị, kiểm tra, tố giác, vạch trần, khiếu nại, bãi miễn, báo cáo, đối chất, bàn bạc theo quy định của pháp luật để giám sát và đốc thúc cơ quan nhà nước và công chức thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định, đó là những hình thức cơ bản để quần chúng tham gia vào đời sống chính trị, thực hiện quản lý nhà nước và quyền làm chủ của công dân. Thực tế vẫn còn hiện tượng cán bộ lãnh đạo chưa coi trọng, thiếu trách nhiệm trước sự giám sát của quần chúng. Tuy công dân có thể thông qua các phương thức như báo cáo lên cấp trên, khởi kiện để phát huy vai trò giám sát đối với quyền lực công, nhưng lại không có chế tài để buộc những người nắm quyền lực công dừng ngay hành vi lạm dụng quyền lực hay tham nhũng, nên tình trạng này bị kéo dài nghiêm trọng.

Bốn là, giám sát pháp luật ở Trung Quốc còn nhiều lỗ hổng về thể chế. Tính độc lập của các cơ quan giám sát chưa cao, quyền quyết định về nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất của cơ quan kiểm sát, thẩm phán đều thuộc thẩm quyền của chính quyền cùng cấp, nên khó tránh khỏi tình trạng “nể nang”, làm ngơ trước những sai phạm, vì chính quyền có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan giám sát. Mặt khác, nếu muốn xử lý sai phạm của cán bộ, đều phải có ý kiến của đảng ủy cấp có thẩm quyền, do vậy cơ chế pháp lý đối với quyền lực công chưa tạo thành hệ thống biệt lập.

Năm là, sự giám sát từ các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội còn hạn chế. Trong xã hội pháp quyền hiện đại, việc giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận xã hội là hình thức quan trọng để công chúng tham gia giám sát. Trung Quốc lâu nay vẫn coi trọng sự giám sát của thông tin dư luận, nhưng cơ chế thông tin hiện hành vẫn còn chịu sự quản lý quá nhiều của quyền lực hành chính, quyền tự chủ ít, quyền giám sát của thông tin dư luận thiếu sự bảo đảm, người làm công tác thông tin đôi khi bị đe dọa đến tính mạng, tính khách quan công bằng, đúng mực, tính không bị lợi dụng, tính đúng mục đích của giám sát dư luận chưa được thực hiện đầy đủ.

Những nội dung giám sát chủ yếu

1 - Giám sát ngôn luận, hoạt động trong công việc của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và chính quyền các cấp trong việc thực hiện Điều lệ Đảng và pháp luật.

2 - Giám sát tình hình tuân thủ chính trị, kỷ luật, việc thực hiện đoàn kết, nhất trí của cán bộ đảng viên, tổ chức đảng và chính quyền trong việc thực hiện cương lĩnh, chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách của cấp trên.

3 - Giám sát đối với cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền trong việc thực thi quyền lực theo trách nhiệm và vị trí công tác.

4 - Giám sát việc thực hiện chế độ tập trung dân chủ, xem việc phát huy dân chủ, kiểm tra giám sát các chế độ dân chủ đã được kiện toàn và chấp hành thực sự hay chưa, lợi ích của quần chúng đảng viên có được bảo đảm và tôn trọng không, xu hướng ly khai, bè phái, cực đoan, chia rẽ nội bộ có diễn ra không.

5 - Giám sát tác phong, tư tưởng công tác và tác phong sinh hoạt ngoài công việc của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, nhằm phát hiện và ngăn chặn lối sống không lành mạnh, đạo đức suy đồi của cán bộ.

Những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả giám sát đang áp dụng

1 - Xây dựng và triệt để thực hiện cơ chế báo cáo định kỳ với quần chúng, với việc hoàn thiện “ba chế độ” (chế độ báo cáo tình hình, chế độ phản ánh tình hình và chế độ trưng cầu ý kiến).

2 - Tiến hành công khai hóa thông tin cá nhân cán bộ lãnh đạo. Ngay từ năm 1997, Trung Quốc đã ban hành quy định yêu cầu cán bộ lãnh đạo cung cấp thông tin cá nhân và quy định này đến nay đã được hoàn thiện. Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa thông qua quy định về công tác quản lý và giám sát đối với cán bộ lãnh đạo có hiệu lực từ ngày 11-7-2010 (4). Hằng năm, các quan chức phải báo cáo những thông tin trên cho cơ quan tổ chức của các cấp ủy đảng. Cơ quan tổ chức, kỷ luật, công tố viên có thể kiểm tra những nội dung kê khai nói trên.

3 - Dân chủ hóa hoạt động của Đảng và hệ thống chính quyền, thực hiện chủ trương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải chịu sự giám sát. Dân chủ trong đảng hay chính quyền là quan hệ ủy nhiệm quyền lực, tức người ủy nhiệm (quần chúng, đảng viên) tiến hành giám sát quyền lực mà họ đã ủy nhiệm cho lãnh đạo. Ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng cần chịu sự giám sát.

Để thực hiện dân chủ trong đảng, chính quyền, Trung Quốc xoay quanh việc thực thi 6 giải pháp: Một là, hoàn thiện nguyên tắc và hình thức bầu cử, bảo đảm việc bầu cử thể hiện đầy đủ ý chí và nguyện vọng của người bỏ phiếu, khắc phục tình trạng bỏ phiếu mang tính hình thức; Hai là, xây dựng bầu không khí chính trị lành mạnh, khai thông và mở rộng các kênh dân chủ, để cho các ý kiến, kiến nghị, phê bình được kịp thời phản ánh; Ba là, cải cách thể chế hoạt động và tăng cường vị thế của các cơ quan giám sát theo hướng độc lập. Thực hiện phương thức lãnh đạo theo ngành dọc đối với ngành giám sát, làm cho quyền quyết định về nhân sự, tài chính và cơ sở vật chất của các cơ quan giám sát tách khỏi đảng ủy và chính quyền cùng cấp, Ủy ban Kiểm tra kỷ luật chỉ chịu trách nhiệm với Ủy ban Kiểm tra kỷ luật cấp trên. Mở rộng quyền tham gia, quyền kiến nghị, quyền phản biện, phê bình của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật đối với cấp ủy, chính quyền cùng cấp, đồng thời pháp quy hóa quyền đề xuất ý kiến, quyền sát hạch, quyền khép tội, lập án đối với sai phạm của cán bộ và quyền chất vấn đối với việc miễn nhiệm, bổ nhiệm cán bộ của hệ thống chính trị. Bốn là, tăng cường vai trò giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân và Chính hiệp, đặc biệt là trong việc giám sát trực tiếp các chức danh chính quyền. Năm là, kiện toàn và hoàn thiện cơ chế giám sát của dư luận và các phương tiện thông tin đại chúng, trao cho các thiết chế đó quyền tự chủ hơn. Sáu là, cải cách chế độ tư pháp, xây dựng cơ chế giám sát quyền lực theo luật./.   ___________________________________________

(1) Báo cáo Chính trị Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhân dân nhật báo (tiếng Trung), ngày 18-10-2007

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng Cộng sản Trung Quốc, tuyển chọn (tiếng Trung), Nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1997, tr 24

(3) Baron de Montesquieu: Bàn về tinh thần của luật (quyển 1) (tiếng Trung), Nxb Thương Vụ, Bắc Kinh, 1995, tr 241

(4) Quy định mới yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp từ cán bộ chủ chốt cấp xã trở lên, phải kịp thời thông báo bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến tình trạng hôn nhân và các thành viên của gia đình; kê khai thu nhập cá nhân, nhà ở và đầu tư kinh doanh của các thành viên trong gia đình. Đối với quan chức chủ chốt của các đơn vị từ cấp huyện trở lên phải báo cáo định kỳ các nội dung: thu nhập từ lương, phụ cấp và những nguồn khác; nhà ở thuộc sở hữu của thành viên gia đình, bao gồm vợ (chồng) và con cái; những khoản đầu tư của gia đình vào những công ty chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán; những khoản đầu tư của gia đình vào những sản phẩm tài chính (TG).

Trần Thọ Quang

VIDEO