Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Những giải pháp tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường năm 2012
16:46' 17/4/2012
TCCS - Triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 trong điều kiện Chính phủ đang xây dựng và triển khai tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế, việc thực hiện những giải pháp tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường có ý nghĩa rất quan trọng.


Các chính sách về thuế

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội khó khăn và có những diễn biến khó lường, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ở một số lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội là những đối tượng dễ bị tác động nhiều nhất và cần tiếp tục được hỗ trợ thông qua các công cụ và chính sách tài chính - tiền tệ để vượt qua khó khăn, sớm ổn định, phát triển sản xuất, kinh doanh.

Về gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Dự kiến tiếp tục thực hiện chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp(TNDN) thêm 03 tháng đối với số thuế TNDN phải nộp của quý I và quý II năm 2011 (số thuế này khoảng 7.843 tỉ đồng đã được gia hạn 01 năm theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ). Đối tượng được gia hạn nộp thuế là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực sản xuất dễ bị tác động.

Căn cứ diễn biến thực tế năm 2012, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, trình Chính phủ quyết định hoặc để Chính phủ trình Quốc hội quyết định các biện pháp giãn, giảm thuế phù hợp điều kiện sản xuất, kinh doanh và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính về thuế, hải quan

Ngành tài chính sẽ tiếp tục tập trung cải cách thủ tục hành chính về thuế, hải quan theo hướng tăng cường tính công khai minh bạch, tự khai, tự chịu trách nhiệm, góp phần giảm chi phí và thời gian sản xuất, kinh doanh, tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành và thực hiện chính sách thuế, hải quan nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả và thông thoáng trong nền kinh tế.

Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều quản lý thuế đang được Bộ Tài chính hoàn thiện, trình Quốc hội xem xét, thông qua trong năm 2012 theo hướng nghiên cứu, sửa đổi quy định về thời gian khai thuế, nộp thuế để giảm tần suất kê khai, nộp thuế, giảm chi phí của người nộp thuế, mở rộng diện doanh nghiệp đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế điện tử, qua mạng in-tơ-nét; chuẩn hóa quy trình quản lý thuế trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin bảo đảm thống nhất, có tính liên kết cao; xây dựng và áp dụng chế độ kế toán thuế bảo đảm ghi chép đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp.

Chính sách quản lý giá

Kiên trì thực hiện nguyên tắc giá thị trường bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh hợp lý và lợi nhuận phù hợp cho các doanh nghiệp, kết hợp các biện pháp hỗ trợ cho người nghèo, người có thu nhập thấp, bảo đảm an sinh xã hội.

Theo nguyên tắc này, định hướng điều hành giá năm 2012 đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ như sau:

a - Đối với hầu hết hàng hóa, dịch vụ nông, lâm, thủy sản; tư liệu sản xuất, vật liệu xây dựng, công nghiệp tiêu dùng…: thực hiện cơ chế doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tự định giá, cạnh tranh về giá phù hợp với các quy định của pháp luật; Chính phủ áp dụng các biện pháp kinh tế để tác động vào sự hình thành và vận động của giá hàng hóa dịch vụ trên thị trường và mặt bằng giá để thực hiện mục tiêu bình ổn giá.

b - Đối với hàng hóa dịch vụ Nhà nước còn định giá hoặc kiểm soát giá, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tiếp tục lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường, xóa bao cấp qua giá đối với các loại hàng hóa, dịch vụ còn bao cấp qua giá vào thời điểm thích hợp, với liều lượng hợp lý phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện công khai, minh bạch giá các hàng hóa, dịch vụ này…, đi đôi với các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với những ngành sản xuất gặp khó khăn, hỗ trợ đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, cụ thể:

- Điều chỉnh tăng giá điện ở mức kiềm chế, chỉ phân bổ một phần các chi phí còn “treo lại”  chưa tính đủ vào cơ cấu giá điện trước đây, như chênh lệch tỷ giá, lỗ lũy kế năm 2010 do mua điện giá cao, giá than bán cho sản xuất điện…

- Điều chỉnh giá than cho sản xuất điện tăng ở mức phù hợp theo lộ trình điều chỉnh giá điện để trong vài năm tới thực hiện được nguyên tắc giá bán than trong nước bằng khoảng 90% giá than xuất khẩu cùng loại.

- Điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường.

- Điều chỉnh chính sách viện phí, sửa đổi khung giá dịch vụ khám, chữa bệnh theo lộ trình thích hợp, tiến tới tính đúng, tính đủ các chi phí phục vụ bệnh nhân gắn liền với chất lượng dịch vụ. Có chính sách trợ giúp đối với những người thuộc diện chính sách xã hội, người nghèo, hưu trí, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

- Điều hành giá một số loại dịch vụ công khác (văn hóa, giáo dục, hạ tầng, môi trường, chất thải, nhà ở xã hội…) hình thành cơ chế giá dịch vụ theo hướng dần tính đúng, tính đủ chi phí trong giá phù hợp với chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện cho các đơn vị cung ứng dịch vụ công thực hiện hạch toán kinh tế, tự chủ trong kinh doanh. Đẩy mạnh cơ chế đấu thầu, đấu giá cung ứng dịch vụ công nhằm thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao chất lượng phục vụ. Đối với loại dịch vụ công còn được chi từ nguồn ngân sách nhà nước thì thực hiện cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ theo giá do Nhà nước xác định.

- Kiểm soát chặt chẽ hành vi cạnh tranh không lành mạnh về giá, chống bán phá giá và chuyển giá nội bộ theo quy định của pháp luật. Kiểm soát các phương án giá, mức giá của hàng hóa dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá, bình ổn giá, đăng ký giá, kê khai giá; những hàng hóa dịch vụ được Nhà nước sử dụng ngân sách để đặt hàng phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia, hàng hóa phục vụ công ích.

Bên cạnh các giải pháp về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ khác, như: (1) Các giải pháp về phát triển sản xuất, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ; hoàn thiện hệ thống lưu thông phân phối, tránh mua bán lòng vòng đẩy chi phí sản xuất, lưu thông lên cao; (2) Các giải pháp kiểm soát thị trường; (3) Giải pháp thông tin, tuyên truyền về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội để hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát.

Chính sách tài chính doanh nghiệp

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính doanh nghiệp

- Ban hành nghị định của Chính phủ về thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác. Thực hiện phân định, phân cấp rõ ràng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, của bộ quản lý ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp trong công tác đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

- Xây dựng và ban hành nghị định của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu.

- Trình, ban hành sớm quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); cơ chế giám sát tài chính đối với các tập đoàn, tổng công ty lớn; quy định cụ thể chế độ báo cáo và công khai, minh bạch kết quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

- Ngoài ra, các bộ, ngành chức năng cần nghiên cứu để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế, để các doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Xây dựng và triển khai Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh quá trình sắp xếp, cổ phần hóa DNNN

a - Tập trung xây dựng và triển khai Đề án tái cấu trúc DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty (TĐKT, TCT) nhà nước ngay từ năm 2012 theo các định hướng sau:

- Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sức cạnh tranh của khu vực DNNN trên cơ sở nâng cao năng lực tài chính, bảo đảm cơ cấu tài chính hợp lý cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của DNNN, nhất là TĐKT, TCT nhà nước; bảo đảm cho TĐKT, TCT nhà nước làm tốt vai trò công cụ điều tiết vĩ mô, là đầu tàu định hướng sự phát triển, tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc thành phần khác cùng phát triển trong môi trường cạnh tranh bình đẳng.

- Tái cấu trúc DNNN thực hiện trên cả phương diện vĩ mô và cả phương diện vi mô, đồng thời phải gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020.

- Triển khai thực hiện đồng thời, đồng bộ các nhóm giải pháp, cụ thể là:

+ Tập trung phát triển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm cân đối lớn, ổn định kinh tế vĩ mô; quốc phòng, an ninh và trên một số địa bàn quan trọng. Trên cơ sở sắp xếp các DNNN 100% vốn nhà nước theo ngành nghề, lĩnh vực thành 4 nhóm với tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước: 100%, trên 75% (chi phối tuyệt đối), trên 65% (chi phối) và không giữ quyền phủ quyết. Tập trung thu gọn, củng cố, nâng cao hiệu quả, năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của 3 nhóm đầu để đảm đương vai trò là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước; nhóm còn lại có kế hoạch cổ phần hóa, rút vốn nhanh, an toàn.

+ Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, chú trọng vào các TĐKT, TCT theo hướng giảm số lượng DNNN và vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đa dạng hóa sở hữu, thu hút các nhà đầu tư chiến lược mạnh trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào DNNN, khuyến khích người lao động mua cổ phần tại doanh nghiệp.

+ Sắp xếp, đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của TĐKT, TCT nhà nước; nâng cao năng lực, hiệu quả quản trị và thực hiện công khai, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường đối với DNNN.

+ Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách có liên quan, đặc biệt là đổi mới và tăng cường quản lý giám sát của Nhà nước đối với DNNN, trong đó trọng tâm là TĐKT, TCT nhà nước.

b - Có chính sách tài chính, tiền tệ hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn, củng cố niềm tin và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với thị trường vốn, thị trường chứng khoán cũng như hoạt động cổ phần hóa DNNN trong thời gian tới.

c - Rà soát để ban hành hệ thống các chính sách, chế độ cho phù hợp phục vụ quá trình sắp xếp, tái cơ cấu lại DNNN, như:

- Tiêu chí phân loại DNNN trong giai đoạn tới theo hướng xác định rõ và thu hẹp ngành, lĩnh vực cần nắm giữ 100% vốn nhà nước (chủ yếu là các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu cho đời sống xã hội; doanh nghiệp an ninh, quốc phòng) còn lại sẽ thực hiện cổ phần hóa theo lộ trình cho phù hợp. Kiên quyết giải thể, phá sản những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, mất vốn.

- Hướng dẫn việc thành lập mới, tổ chức lại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; việc quản lý tài chính, quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp theo phương thức thị trường; tổ chức, giám sát vốn đầu tư tại các doanh nghiệp; công bố công khai thông tin về DNNN như các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán…

- Nghiên cứu, phát triển mô hình các quỹ đầu tư, có các chính sách hạn chế, không khuyến khích các nhà đầu tư ngắn hạn, hướng tới đầu tư lâu dài tại doanh nghiệp.

d - Thay đổi căn bản cơ chế quản lý DNNN và mô hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước.

Hoàn thiện cơ chế quy định về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác theo hướng bảo đảm phù hợp với Luật Doanh nghiệp, đồng thời phân định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ của từng cấp từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đến hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng quản trị công ty tại các doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, sớm ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động củaTổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước(SCIC).

- Nghiên cứu sớm hình thành tổ chức quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp để thực hiện quản lý, giám sát vốn nhà nước đầu tư tại DNNN; thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

- Tổ chức xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp phù hợp với mô hình tổ chức mới; xây dựng chế độ tiền lương, tiền thưởng và các lợi ích khác theo hướng gắn với mức độ hoàn thành nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có tính đến đặc thù ngành nghề, lĩnh vực hoạt động đối với người quản lý, điều hành và người đại diện vốn.

- Tăng cường trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền tại các doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng giữa chủ sở hữu nhà nước hoặc tổ chức mới được thành lập với người đại diện; xác lập rõ quyền, lợi ích cũng như chế tài xử lý khi để xảy ra sai phạm.

- Xây dựng và ban hành điều kiện mẫu, quy chế quản trị nội bộ mẫu trong doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế.

e - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của DNNN.

- Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với quá trình đổi mới, tái cơ cấu DNNN.

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước, đồng thời sớm hình thành một tổ chức làm đầu mối tổng hợp, kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của các doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

- Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp  sau khi thực hiện sắp xếp, chuyển đổi.

- Xây dựng thiết lập hệ thống thông tin về doanh nghiệp nói chung, trong đó có DNNN nhằm công khai, minh bạch hóa tình hình doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết hội nhập.

g - Rà soát để phân bổ nguồn lực của Nhà nước đầu tư vào DNNN hợp lý, loại bỏ những chính sách, hình thức ưu đãi và bao cấp không phù hợp đối với DNNN; đặt DNNN vào môi trường cạnh tranh bình đẳng đối với các thành phần kinh tế khác.

Chính sách về phát triển thị trường chứng khoán, thị trường vốn

Năm 2012, ngành tài chính sẽ triển khai tập trung đề án tái cơ cấu thị trường tài chính tập trung vào thị trườngchứng khoán, thị trường vốn nhằm mục tiêu tiếp tục hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoản bảo đảm vai trò là kênh huy động nguồn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế.

 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ các thị trường vốn, thị trường chứng khoán trên nguyên tắc tôn trọng các quy luật thị trường, hạn chế can thiệp hành chính, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và phù hợp với các thông lệ quốc tế.

 Có biện pháp để thực hiện tái cấu trúc thị trường chứng khoán, bao gồm: Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên cơ sở hoàn thiện và nâng tiêu chí phát hành, niêm yết, chuyển từ cấp phép sang chế độ công bố thông tin đầy đủ; tái cấu trúc chứng khoán chưa niêm yết; xây dựng các nhà kinh doanh trái phiếu sơ cấp, tạo sự liên kết giữa nhà kinh doanh sơ cấp và thứ cấp; xây dựng tổ chức định mức tín nhiệm; hoàn thiện hệ thống giao dịch, thanh toán, công bố thông tin; triển khai và phát triển các sản phẩm quỹ đầu tư; xây dựng cơ chế thuế khuyến khích đầu tư có tổ chức; tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán, các công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát sở giao dịch chứng khoán, hệ thống lưu ký, đăng ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán, phát triển và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư nhằm kích cầu bền vững, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, tập trung khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư dài hạn; thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong và ngoài nước trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động giám sát, cưỡng chế thực thi,...

Phát triển thị trường trái phiếu trở thành một kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng cho nền kinh tế. Phát triển các thị trường dịch vụ tài chính, đặc biệt là thị trường bảo hiểm. Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm mở rộng kênh phân phối để người dân dễ tiếp cận; triển khai các sản phẩm bảo hiểm mới, đặc biệt là các sản phẩm về y tế, giáo dục, hưu trí, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng...

Chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh tín dụng của Nhà nước

Tiếp tục triển khai, ban hành văn bản hướng dẫn Nghị định số 75/2011/NĐ-CP,  ngày 30-8-2011, về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24-02-2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ; Quyết định số 1483/QĐ-TTG ngày 26-8-2011 về ban hành Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển. Rà soát danh mục các chương trình dự án để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thu hẹp phạm vi tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và  vừa trong quá trình tiếp cận nguồn vốn tín dụng để mở rộng sản xuất, kinh doanh, đồng thời ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.

Chính sách đất đai, quản lý công sản

Giảm tiền thuê đất nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, bảo đảm duy trì sản xuất và tăng trưởng

Ngày 23-12-2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2093/QĐ-TTg về việc giảm tiền thuê đất năm 2011 và năm 2012 đối với một số doanh nghiệp đáp ứng một số điều kiện nhất định. Tuy nhiên, tiền thuê đất sau khi được giảm không thấp hơn tiền thuế đất phải nộp năm 2010 (với cùng mục đích sử dụng đất thuê và diện tích thu tiền thuê đất). Trường hợp tiền thuê đất sau khi được giảm mà còn cao hơn 2 lần so với tiền thuê đất phải nộp của năm 2010 thì tổ chức kinh tế được giảm tiếp tiền thuê đất của năm 2011, năm 2012 đến mức bằng 2 lần tiền thuê đất phải nộp của năm 2012.

Sắp xếp lại nhà đất nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, bảo đảm duy trì sản xuất và tăng trưởng

Để giải quyết khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường năm 2012, việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước được thực hiện như sau:

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước xây dựng định hướng, chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn trước mắt và lâu dài. Trên cơ sở đó, bố trí lại quỹ đất phù hợp, phần diện tích đất dôi dư thực hiện thu hồi để sử dụng vào các mục đích sau: (1) Bố trí cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng, trong đó ưu tiên đối với các doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực được ưu đãi đầu tư; (2) Chuyển nhượng theo giá thị trường để sử dụng vào các mục đích khác nhau phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Một phần nguồn vốn thu được sẽ đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, một phần đầu tư trở lại cho các doanh nghiệp có các dự án đầu tư chiều sâu.

Hoàn thiện quy trình xác định giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất bảo đảm giá đất sát với thực tế thị trường; thực hiện xã hội hóa công tác thẩm định giá cho các thành phần kinh tế gắn với trách nhiệm, Nhà nước thực hiện xác định giá trên cơ sở kết quả tư vấn và có xem xét đến tính hệ thống để bảo đảm tính minh bạch cũng như giảm thủ tục hành chính.

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát doanh nghiệp thông qua kiểm toán, quản lý tài sản công, quản lý tài chính doanh nghiệp…

Chính sách tiền tệ - tín dụng trong năm 2012 nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp tháo dỡ khó khăn, phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường

Chính sách tiền tệ, tín dụng năm 2012 đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định trọng tâm là điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát theo mục tiêu của Chính phủ đề ra; trong đó có các giải pháp quan trọng để tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển, như:

Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ, nhất là các công cụ về lãi suất, dự trữ bắt buộc để giảm mặt bằng lãi suất về mức hợp lý, cung ứng đủ vốn theo nhu cầu của nền kinh tế.

Định hướng và có biện pháp khuyến khích, hỗ trợ để các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần nghiên cứu để sử dụng công cụ tái cấp vốn nhằm hỗ trợ vốn cho các lĩnh vực, ngành có định hướng ưu tiên phát triển nêu trên.

Điều hành tỷ giá và quản lý thị trường ngoại hối phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung - cầu ngoại tệ, bảo đảm tính thanh khoản của thị trường, góp phần khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối quốc gia.

Việc thực hiện các giải pháp về tài chính nhằm khắc phục, giải quyết khó khăn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường là một trong những giải pháp cơ bản, quan trọng để thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2012 theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ./.


Vương Đình HuệGS, TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính

Bài cùng chuyên mục

VIDEO