Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Đại hội XI của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc
21:0' 8/3/2012
TCCS - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã phân tích, dự báo bối cảnh quốc tế và chỉ rõ: Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Điều đó ảnh hướng lớn đến việc bảo vệ quốc phòng an ninh của nước ta... 


Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã tiếp tục phân tích dự báo tình hình thế giới và trong nước những năm sắp tới, trong đó nhấn mạnh “Trên thế giới: Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường... còn tiếp tục gia tăng”(1); “Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, vẫn sẽ là khu vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt”(2); “Ở trong nước: Những thành tựu, kinh nghiệm của 25 năm đổi mới (1986 - 2011) đã tạo ra cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước… Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào”(3). 

Báo cáo chính trị không chỉ khẳng định sự tồn tại đan xen giữa nguy cơ và thách thức, có cái là nguy cơ, nhưng có cái lại là thách thức, đang hiện hữu, đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên đất nước ta, mà còn chỉ rõ hơn mức độ của những nguy cơ, thách thức đang đặt ra đối với nước ta, trong đó nhấn mạnh: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”(4). 

Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cho thấy, tư duy mới về xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay được Đảng ta tiếp tục phát triển và được thể hiện trên một số nội dung cụ thể sau đây: 

Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trước hết ở quan niệm về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa hai mặt tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta... Báo cáo chính trị còn nhấn mạnh đến việc giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời... sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu... 

Vì vậy, chúng ta phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, khôn khéo, không bị kích động, bị xúi giục gây xung đột vũ trang, chiến tranh; giải quyết mọi vấn đề bằng những biện pháp hòa bình, trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực là yêu cầu cao trong xử lý các mối quan hệ quốc tế và khu vực hiện nay.

Vấn đề hội nhập quốc tế trong các Văn kiện Đại hội XI của Đảng cho thấy, lần này chúng ta không chỉ đề cập đến hội nhập kinh tế quốc tế, mà còn đề cập đến vấn đề chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, không chỉ về kinh tế, mà còn các vấn đề về giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ và cả việc “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”(5). 

Với việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, chúng ta sẽ có điều kiện tranh thủ những mặt thuận lợi của quá trình hội nhập quốc tế để tiến hành xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Và xét về góc độ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc thì quá trình hội nhập cũng đặt ra cho chúng ta những khó khăn, thách thức mới. Trong môi trường thông tin rộng lớn, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao, nhất là mạng in-tơ-nét, đã xuất hiện khái niệm “biên giới mềm”, “biên giới thông tin”. Theo đó, quan niệm về “an ninh toàn diện” và vấn đề “bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội” phải được đặt ra. Vấn đề kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn những cuộc xâm nhập, “tấn công mềm” từ bên ngoài bằng các thủ đoạn thông tin trên các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa được đặt ra một cách gay gắt hơn.

Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc không chỉ thể hiện ở việc giữ cho “trong ấm”, thông qua việc chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; mà còn phải giữ cho “ngoài êm”. 

Cùng với việc tiếp tục khẳng định vấn đề tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh, tiếp tục phát triển quan điểm của Đại hội X của Đảng, Đại hội XI khẳng định phải xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng tỏ, hơn lúc nào hết, trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc của chúng ta hiện nay, vấn đề lòng dân có vai trò cực kỳ quan trọng. Xây dựng thế trận lòng dân là yêu cầu bức thiết, là nội dung cơ bản của việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Đây là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, là việc nâng lên một tầm cao mới truyền thống, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được Đảng ta thể hiện trong tư duy mới về sức mạnh và lực lượng bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. 

Kiên trì quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân trong mối quan hệ với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định quan điểm hết sức cơ bản là: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”(6). 

Tư duy mới của Đảng ta về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh phải được thể hiện trong từng chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển, coi sự ổn định và phát triển về mọi mặt của đất nước là nền tảng để tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Theo đó, tiềm lực và thế trận của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân sẽ được dựa trên một cơ sở hết sức vững chắc - sức mạnh tổng hợp của đất nước, cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả sức mạnh tiềm tàng với sức mạnh hiện hữu, sức mạnh của cả truyền thống, hiện tại và tương lai. Đó là sự bảo đảm cho nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố và phát triển vững chắc.

Tư duy mới của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay còn thể hiện ở việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia... 

Trong điều kiện mới, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nội dung đã có sự phát triển mới, rộng lớn hơn, toàn diện hơn thì việc bồi dưỡng kiến thức về quốc phòng - an ninh đòi hỏi một hệ thống kiến thức toàn diện hơn. Phải trang bị cho mọi người cả kiến thức về quốc phòng và kiến thức về an ninh; sự hiểu biết về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cả bằng phương thức vũ trang, cả bằng phương thức phi vũ trang, nhất là phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” và cả quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong; cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Kiến thức về quốc phòng - an ninh phải trở thành kiến thức thường trực trong mỗi tổ chức, mỗi con người hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, Báo cáo chính trị đã nhấn mạnh: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”(7). 

Để đấu tranh phòng, chống quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong đòi hỏi một trong những biện pháp rất cơ bản là phải nâng cao khả năng tự bảo vệ. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta đây là vấn đề cực kỳ quan trọng, không chỉ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về “một cuộc cách mạng chỉ thực sự có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mà còn rất phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay, khi mà chúng ta vừa phải sẵn sàng chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù nếu chúng liều lĩnh phát động chống nước ta, vừa đang phải hằng ngày, hằng giờ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong do tác động của “diễn biến hòa bình” và sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, cộng với những “ung nhọt” nảy sinh trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

Chỉ có nâng cao khả năng tự bảo vệ của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, của mỗi người, tăng cường sức đề kháng, khả năng “tự miễn dịch” trước tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình”, của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế mới hy vọng đem lại cho chúng ta một sức mạnh mới, sức mạnh bên trong để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Để thực sự là lực lượng nòng cốt trong tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), tiếp tục khẳng định phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh: Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. 

Phải xây dựng Quân đội nhân dân với số quân thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao. Đây là yêu cầu mới đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng trong nâng cao sức chiến đấu của Quân đội phù hợp với tình hình mới. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện; kết hợp lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Theo đó, phải chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong điều kiện mới. Đồng thời, phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước hết là cho lực lượng hải quân, phòng không, không quân, lực lượng an ninh, tình báo, cảnh sát cơ động. 

Để bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống, phải thường xuyên bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. Phải hoàn thiện các chiến lược quốc phòng, an ninh và hệ thống cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới; tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, các quy chế phối hợp quân đội, công an và các tổ chức chính trị - xã hội. 

Trong những điều kiện đó, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục vận dụng những thành quả tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong 25 năm đổi mới, đồng thời tiếp tục nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung đã được bổ sung, phát triển mới trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng và từng bước cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình thực tiễn./.

-------------------------------------------
(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 182 - 183, 184, 185 (4), (5) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 185, 233 (6), (7) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 82, 185
Nguyễn Vĩnh Thắng Thiếu tướng, PGS, TS, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

VIDEO