Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Tìm hiểu quan điểm của Đại hội XI của Đảng về các thành phần kinh tế
15:25' 21/8/2011
TCCSĐT - Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã được Đảng ta nêu ra từ Đại hội VI (1986). Đây là chủ trương, chính sách nhất quán và lâu dài của Đảng ta, cho đến nay đã trải qua 25 năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh rằng, đây là một luận điểm, một chính sách hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan, là quyết sách chiến lược đúng đắn, sáng tạo góp phần vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”.


Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định tính khách quan của việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, coi trọng mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức kinh doanh và vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.

Đa dạng hoá các hình thức sở hữu

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã có những khái quát mới về lý luận: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.”(1)

Lần đầu tiên trong Văn kiện, Đảng ta nêu đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Đây là một bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa chế độ sở hữu, hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh. Mỗi chế độ sở hữu trong thực tiễn có thể có nhiều hình thức sở hữu mà ở đó sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và biểu hiện ra là các loại hình kinh doanh có hiệu quả cao góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển đa dạng của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất càng đa dạng, trình độ xã hội càng phát triển, quan hệ sản xuất càng mở rộng thì tính đa dạng trong quan hệ sở hữu cũng ngày càng tăng lên.

Vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ nhấn mạnh “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh”, còn số lượng các hình thức sử hữu, các thành phần kinh tế và theo đó là bao nhiêu loại hình doanh nghiệp là do nhu cầu khách quan của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quyết định. Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để có thể tránh giáo điều chủ quan.

Coi trọng mọi hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã đưa ra khái quát mới về mặt lý luận: “Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước..., quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với xã hội”(2). 

“Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”(3), “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(4).

Có thể có ý kiến còn băn khoăn về cách tiếp cận nêu trên của Văn kiện Đại hội XI của Đảng so với lý luận của V.I. Lê-nin về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta biết rằng, nhận thức về thành phần kinh tế của V.I. Lê-nin cũng rất uyển chuyển, linh hoạt phù hợp với các giai đoạn phát triển khác nhau: Giai đoạn áp dụng chính sách cộng sản thời chiến, thành phần kinh tế được nhấn mạnh trên cơ sở quan hệ sở hữu nhất định, nhưng khi chính sách kinh tế mới (NEP) ra đời, thành phần kinh tế lại được nhấn mạnh đến các hình thức kinh tế.

Như vậy, ở các giai đoạn khác nhau thì nhận thức về thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi, đó là quá trình khách quan phù hợp với quy luật nhận thức. Vì vậy, quá trình đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về các thành phần kinh tế ở nước ta qua các kỳ đại hội của Đảng là hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời kỳ đang phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.

Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”(5).

Như chúng ta đã biết, tại Đại hội VIII (năm 1996) Đảng ta lần đầu tiên đưa ra phạm trù kinh tế nhà nước thay vì cách gọi kinh tế quốc doanh trước đó, với nội hàm rộng hơn, bao quát được toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của đất nước; những cơ sở hạ tầng được tạo ra; các loại quỹ của quốc gia; các doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh... nhờ đó đã giải quyết được vấn đề nhận thức thực tiễn cũng như lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cao sẽ góp phần tăng cường tiềm lực và sức mạnh của kinh tế nhà nước trong sứ mệnh chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho nên, việc tăng hay giảm cả về quy mô, số lượng, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chỉ phản ánh một bộ phận của kinh tế nhà nước nói chung, chứ không thể coi đó là toàn bộ kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất”(6). Luận điểm nêu trên của Đảng ta là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn kinh tế khách quan. Bài học từ các nền kinh tế lớn vừa qua cũng cho thấy, vai trò của nhà nước không chỉ thể hiện ở sự điều hành vĩ mô nền kinh tế, mà còn ở thực lực của kinh tế nhà nước.

Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) hiện nay đã nói lên điều đó. Mỹ là nền kinh tế mạnh nhất toàn cầu, chiếm 30% GDP của thế giới, nhưng thực lực kinh tế lại nằm trong tay các tập đoàn kinh tế tư nhân, nên khi các “đại gia” sụp đổ thì nhà nước cũng đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Học thuyết chủ nghĩa tự do mới, với việc hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế đã bị sụp đổ hoàn toàn. Ông Ni-cô-la Xác-cô-di, Tổng thống Pháp đồng thời là Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU) đã kêu gọi phải “tái xây dựng một chủ nghĩa tư bản điều chỉnh”.  

Như vậy, để chuyển biến nhận thức từ giai đoạn phân chia các thành phần kinh tế thành hai loại: kinh tế xã hội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa (trước đổi mới), đến thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần (trong đổi mới), và thừa nhận tất cả các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài, phải trải qua hơn 15 năm đổi mới (đến Đại hội IX năm 2001). Ngày nay, từ kết quả 25 năm đổi mới chúng ta lại có một bước tiến quan trọng trong quá trình nhận thức bằng việc khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế qua sự đóng góp đối với sự tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mang lại cho nền kinh tế quốc dân.

Vì thế, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa”(7).

Như vậy, từ thực tiễn đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta đã có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận về những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội./.

Tài liệu tham khảo

1. Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI; VII; VIII; IX; X; XI

2. Nguyễn Viết Thông: Tìm hiểu nội dung các văn kiện Đại hội XI của Đảng. lyluanchinhtri.vnu.edu.vn.

3. TTXVN/Vietnam+: Giải thích 87 thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI, ngày 01-06-2011

______________

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr 73

(2) Sđd, tr 206

(3) Sđd, tr 209

(4) Sđd, tr 73

(5) Sđd,  tr 73-74

(6) Sđd, tr 74-75

(7) Sđd, tr 73-74

Nguyễn Nhâm

VIDEO