Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
16:55' 1/7/2011
Đồng chí Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

TCCSĐT - Thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 17-3-2011 của Bộ Chính trị về học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 29-6-2011, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. PGS.TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản chủ trì và có phát biểu đề dẫn tại cuộc tọa đàm khoa học này. Tạp chí Cộng sản Điện tử trân trọng giới thiệu với bạn đọc.



1. Tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống tổ chức, bộ máy của Đảng

Vai trò, chức năng của tổ chức cơ sở đảng

Ngay từ những ngày đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhấn mạnh phải “Biến mỗi chi bộ thành hạt nhân của các Hội liên hiệp công nhân”. V.I. Lê-nin đã phát triển tư tưởng đó và chăm lo xây dựng nhằm xác lập vai trò lãnh đạo của các tiểu tổ công nhân dân chủ xã hội thành những chi bộ cơ sở trong các nhà máy, công xưởng, những khu dân cư của Đảng Bôn-sê-víc Nga. Từ đó các TCCSĐ đã tăng lên về số lượng và phong phú về nội dung và phương thức hoạt động. V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả quần chúng lao động... Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình để rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống”(1).

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta cũng rất quan tâm đến việc xây dựng TCCSĐ, coi các TCCSĐ là cấp tổ chức nền tảng, là những đơn vị chiến đấu cơ bản, những tế bào của Đảng; chất lượng của các đảng bộ, chi bộ cơ sở là nhân tố cơ bản tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở, mà hạt nhân là tổ chức đảng.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua, chỉ rõ: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”(2). Tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Với tính cách là nền tảng của Đảng, TCCSĐ có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự vững mạnh của Đảng. Đây là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng ta, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, gắn với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng cơ sở, từng đảng viên và từng người dân.

Đây là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng thông qua những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân. Đây cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, như kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên; nơi đảng viên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt; nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

Tổ chức cơ sở đảng còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân, là mắt khâu trọng yếu để duy trì mối liên hệ của Đảng với nhân dân; là tổ chức gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng. Dân tin Đảng, theo Đảng hay không là nhờ ở vai trò rất quan trọng, trực tiếp của TCCSĐ, của cán bộ đảng viên tại cơ sở.

Do TCCSĐ có vai trò quan trọng như vậy, nên ở mọi thời kỳ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi các TCCSĐ là những đơn vị chiến đấu cơ bản, những tế bào tạo nên sức sống, sự lớn mạnh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt và Đảng mạnh là do chi bộ mạnh, chi bộ mạnh là do từng đảng viên mạnh. Việc xây dựng, nâng cao chất lượng của TCCSĐ là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng.

Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ là khả năng quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khả năng vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt các chủ trương, đường lối, chính sách đó vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đơn vị, cơ quan mình, để đề ra các chủ trương, phương hướng và giải pháp thực hiện đúng, hiệu quả; có biện pháp tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ ở đơn vị; là khả năng tập hợp, động viên, kiểm tra người lao động, quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội ở cơ sở đạt hiệu quả cao; khả năng chấn chỉnh và cải tiến sinh hoạt đảng, thực hiện có nền nếp việc quản lý đảng viên và công tác phát triển đảng tại cơ sở.

Năng lực lãnh đạo của TCCSĐ phụ thuộc vào khả năng tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tập hợp quần chúng của từng cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, trong đó, tiêu biểu nhất là thể hiện ở năng lực lãnh đạo của cấp ủy. Năng lực lãnh đạo của cấp ủy càng cao thì việc đề ra chủ trương, kế hoạch và chương trình hành động của đơn vị càng bảo đảm kịp thời, đúng đắn, sáng tạo, có hiệu quả. Bí thư cấp ủy phải là người có đủ phẩm chất, năng lực, nhất là năng lực trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn; có kinh nghiệm về quản lý, tổ chức sản xuất; là người cán bộ gương mẫu về mọi mặt, có khả năng tập hợp, quy tụ quần chúng, biết khơi dậy trí tuệ của cán bộ, đảng viên, phối hợp chặt chẽ các hoạt động của cơ quan, các đoàn thể nhân dân; triển khai tổ chức sản xuất kinh doanh, chương trình công tác của đơn vị đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao.

Sức chiến đấu của TCCSSĐ là khả năng vượt mọi khó khăn, gian khổ để giành thắng lợi trong quá trình lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoạt động đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.

Sức chiến đấu của TCCSĐ được thể hiện tập trung ở chất lượng chính trị của tổ chức: biểu hiện cụ thể ở phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị; ở sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với  việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội đúng chủ trương, định hướng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là hai mặt của một vấn đề có quan hệ biện chứng với nhau. Vì vậy, không nên coi trọng mặt này, xem nhẹ mặt kia, đồng thời cũng không nên tách biệt tuyệt đối hai mặt đó với nhau. Bởi đó là hai thuộc tính cần có, gắn bó hữu cơ với nhau của một tổ chức đảng, bảo đảm để tổ chức đảng thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ sở.

Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số loại hình tổ chức cơ sở đảng

Đánh giá về công tác xây dựng, hoạt động của TCCSĐ thời gian qua, Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Việc củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên đạt được một số kết quả tích cực; chú trọng hơn xây dựng, củng cố TCCSĐ ở những vùng, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn. Chức năng, nhiệm vụ các loại hình TCCSĐ được xác định phù hợp hơn. Công tác phát triển, quản lý, nâng cao chất lượng đảng viên được quan tâm chỉ đạo. Số lượng đảng viên mới kết nạp hàng năm đều tăng. Bên cạnh đó, Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém, chậm được khắc phục, như năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít TCCSĐ còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn; tự phê bình và phê bình yếu. Việc xây dựng TCCSĐ trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây mờ nhạt.

Thực trạng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên ở nông thôn

Xây dựng TCCSĐ ở khu vực nông thôn, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên nông thôn là một vấn đề lớn và rất cơ bản.

Hiện nay, toàn Đảng có hơn 3,7 triệu đảng viên, 56.000 TCCSĐ, trong đó có 9.100 TCCSĐ với 1,6 triệu đảng viên ở nông thôn.

Những ưu điểm, yếu kém và nguyên nhân chủ yếu.

Ưu điểm: Số đông TCCSĐ ở nông thôn làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống "diễn biến hoà bình", chống địch phá hoại về tư tưởng chính trị của các tầng lớp nhân dân ở các địa phương. Đội ngũ cán bộ cấp uỷ nhiệt tình, có kinh nghiệm thực tiễn, số đông cấp ủy cơ sở biết vận dụng, thực hiện đúng chỉ thị, nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương mình. Đa số đảng viên có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng, tâm huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Hạn chế: Công tác tuyên truyền, tổ chức học tập quán triệt chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân ở một số cơ sở chưa được coi trọng đúng mức. Việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở nhiều nơi chưa tốt, thậm chí có nơi có lúc còn vi phạm, gây hậu quả phức tạp, làm suy giảm lòng tin của đảng viên, của nhân dân, làm mất ổn định an ninh, trật tự tại địa phương.

Tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, thiếu tinh thần trách nhiệm, quan liêu xa rời quần chúng nhân dân của một bộ phận cán bộ cơ sở làm suy giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đội ngũ cán bộ nhìn chung còn yếu và thiếu về chuyên môn, trình độ lý luận. Năng lực lãnh đạo điều hành còn hạn chế.

Những yếu kém đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng ở cơ sở không theo kịp sự thay đổi cơ chế, chính sách chung và thực tiễn ở địa phương; nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, chưa kịp tổng kết, bổ sung, hoàn chỉnh; bệnh thành tích, báo cáo sai sự thật để vụ lợi danh dự nhất thời cho tập thể, cá nhân còn tồn tại; một số tổ chức Đảng chưa quan tâm đúng mức tới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; công tác xây dựng Đảng ở một số nơi bị buông lỏng, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng không được tuân thủ chặt chẽ.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng thiếu thường xuyên; công tác quản lý đảng viên, phân công nhiệm vụ, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở chưa tốt. Nhận thức của đảng viên ở nông thôn còn thấp, không đồng đều.

Cấp ủy cấp trên chưa thật sâu sát cơ sở, có nơi buông lỏng quản lý, dẫn đến tình trạng khi cơ sở làm sai nguyên tắc, sai chính sách, pháp luật, nhưng không nắm được và không chấn chỉnh kịp thời.

Đảng viên ở nông thôn “đông nhưng không mạnh”. Sức ép của dòng họ, thứ bậc, tính cục bộ của làng xóm chi phối rất lớn. Vị trí, vai trò người đảng viên bị suy giảm trong lãnh đạo nông thôn thực hiện sự nghiệp đổi mới; vị thế, tiếng nói của đảng viên nông thôn rất yếu, ít được quan tâm, ít được xem trọng trong thực tế… Việc tổng kết rút kinh nghiệm, các bài học có tính lý luận và thực tiễn rất ít được phổ biến, truyền đạt, vì vậy trong công tác rất khó có sự sáng tạo; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu, tình trạng “dĩ hòa, vi quý” khá phổ biến trong đảng viên nông thôn hiện nay... 

Về tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp

Trong các doanh nghiệp nhà nước

Về kết quả đạt được: Nhiều TCCSĐ đã xây dựng quy chế hoạt động, trên cơ sở đó thống nhất lãnh đạo mọi hoạt động của đơn vị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, bắt nhịp được với cơ chế mới. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng được quan tâm trước hết bằng việc ra nghị quyết sát đúng, tổ chức triển khai, kiểm tra việc thực hiện những nghị quyết đó. Đã chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng và đồng thời đã phát huy tính tiên phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng. Đã bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong việc chỉ đạo xây dựng các dự án chiến lược, kế hoạch, phương hướng sản xuất kinh doanh...

 Trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt và đảng viên, vai trò của cấp ủy đảng trong lãnh đạo sản xuất kinh doanh được nâng cao một bước.

Về yếu kém, tồn tại: tổ chức đảng ở nhiều doanh nghiệp còn lúng túng về tổ chức, phương thức hoạt động. Thực tiễn nảy sinh nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu giải quyết.

  Đây là một trong những nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp chưa phát huy được thế mạnh của mình. Giải quyết mối quan hệ giữa cấp ủy với chính quyền, giữa bí thư cấp ủy với giám đốc vẫn còn những bất cập và phụ thuộc nhiều vào cá nhân các đồng chí giữ trọng trách này ở doanh nghiệp. Chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa cao, cán bộ đảng viên làm công tác đảng chưa thật sự yên tâm, tích cực trong công tác.

Trong khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Theo số liệu thống kê, hiện cả nước có khoảng 172.500 doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hai khối doanh nghiệp này phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu ngân sách cho Nhà nước...

Tính đến 31-12-2010, trong các doanh nghiệp tư nhân có 3.101 TCCSĐ với 34.185 đảng viên. Trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 555 TCCSĐ với 6.355 đảng viên.

Nhiều tổ chức đảng ở các doanh nghiệp này đã hoạt động tốt, đã đề ra được các hình thức, biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và người lao động; kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng và những kiến nghị đề xuất của đảng viên, quần chúng để đề nghị chủ doanh nghiệp xem xét, giải quyết, hạn chế các vụ tranh chấp giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Nhiều tổ chức đảng đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đem lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp. Từ đó, làm cho chủ doanh nghiệp thấy rõ vai trò, vị trí của tổ chức đảng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, vai trò, vị trí của tổ chức đảng ở đây  còn chưa được thể hiện rõ. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp ủy còn yếu, có nơi còn ngại khó khăn, thụ động. Nội dung sinh hoạt chi bộ nghèo nàn. Công tác quản lý đảng viên rất lỏng lẻo...

Tỷ lệ doanh nghiệp trong khối này có TCCSĐ còn thấp.

Tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị sự nghiệp (cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế)

Những điểm mạnh: Nhìn chung các TCCSĐ, cấp ủy ở các đơn vị nghiên cứu khoa học, cơ sở giáo dục đào tạo, y tế đã cố gắng tìm cho mình những phương thức lãnh đạo, hoạt động thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo. Các tổ chức đảng ở đây đều quan tâm xây dựng chi bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đồng thời giữ vai trò nòng cốt trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị; tham gia xây dựng các chương trình hành động, các kế hoạch nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, y tế.

Những hạn chế, yếu kém: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ, một trong những nguyên nhân của những yếu kém, bất cập, hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, y tế ở nước ta những năm vừa qua là do công tác đảng, công tác chính trị - tư tưởng trong một số viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, trường đại học, bệnh viện còn yếu. Vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở những nơi này chưa được phát huy. Việc phát triển đảng trong đội ngũ trí thức chưa được quan tâm đầy đủ.

Đảng xác lập sự lãnh đạo toàn diện đối với hoạt động khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tinh thần đó phải được quán triệt sâu sắc hơn bao giờ hết. Thế nhưng, dường như rất ít nơi thực hiện được điều đó. Ở một số đơn vị nghiên cứu, giáo dục đào tạo, y tế, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng còn mờ nhạt...

Nội dung sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, còn nghèo nàn và mang nặng tính hình thức. Quan hệ giữa cấp ủy và lãnh đạo chính quyền còn những bất cập, lúng túng về nội dung, phương thức lãnh đạo...

Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII đã chỉ rõ: Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định làm cho khoa học và công nghệ trở thành nền tảng và động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, việc xem xét, nghiên cứu, trao đổi về phương thức lãnh đạo, về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, về cải tiến tổ chức bộ máy đảng là một nội dung quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong các cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học.

Một số giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng

Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình TCCSĐ trong tình hình mới, cần triển khai thực hiện một số giải pháp chủ yếu dưới đây:

Một là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và kiện toàn TCCSĐ. Tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình TCCSĐ, nhất là TCCSĐ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa và ở các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Hai là, gắn việc xây dựng các TCCSĐ trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị, cơ quan và các đoàn thể quần chúng mạnh. Xác định rõ trách nhiệm của chi bộ, tổ đảng và phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên trong công tác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng (nhất là trong các doanh nghiệp), nhất thiết phải có quy chế phối hợp công tác giữa cấp ủy với chính quyền, cấp ủy với ban giám đốc, cấp ủy với thủ trưởng cơ quan, đơn vị; giữa bí thư cấp ủy với người đứng đầu chính quyền các cơ quan, đơn vị.

Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, gắn nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ với tình hình, nhiệm vụ của đơn vị, địa phương. Tăng cường sinh hoạt chuyên đề, đưa nội dung đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt đảng

Bốn là, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và làm tốt công tác phát triển Đảng, nhất là ở nông thôn, ở các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Xác lập tiêu chí, các yêu cầu cụ thể đối với đảng viên, có tính đến đặc thù riêng.

Năm là, nâng cao hiệu quả công tác vận động nhân dân, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là nội dung cơ bản, nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng với phương châm lãnh đạo phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong tình hình hiện nay, vấn đề này lại càng cấp bách và quan trọng, làm cho các TCCSĐ quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đề ra chủ trương giải pháp đúng, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ của đơn vị, phát triển kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt quy chế dân chủ, chống tham nhũng, giải quyết nguyện vọng chính đáng, thiết thực, bức xúc của người lao động, quần chúng nhân dân.

Đảng ta muốn thực sự mạnh, phải chăm lo công tác xây dựng, nâng cao chất lượng của TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phải có các biện pháp đồng bộ, chúng ta mới nâng cao được chất lượng của tổ chức đảng ở cơ sở và bảo đảm cho các TCCSĐ thực sự là nền tảng, hạt nhân chính trị của Đảng.

-----------------------------------------------

(1) V. I. Lê-nin. Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.41, tr. 232

(2) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.35

BÀI MỚI NHẤT

VIDEO