Vấn đề hiến định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
6/6/2013 21:19'

Tính tất yếu của sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với nhà nước

Sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với nhà nước là quy luật chung trong lịch sử phát triển của xã hội hiện đại, trong tất cả các nhà nước, kể từ khi nhà nước tư sản ra đời tới nay. Nhưng quy luật ấy thể hiện ra trong không gian và thời gian khác nhau lại phụ thuộc vào trí tuệ, ý chí của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Cùng giống nhau về hệ tư tưởng, về chế độ chính trị nhưng thể chế, hình thức và sự thể hiện thì lại có nhiều cách, nhiều biểu hiện khác nhau. Ở hầu hết các nước theo thể chế chính trị đa nguyên và chế độ đa đảng thì người ta không thể ghi vào hiến pháp tên một đảng chính trị nào lãnh đạo nhà nước. Nhưng cuộc đua tranh để trở thành đảng cầm quyền thì lại được pháp luật thừa nhận và quy định khá chi tiết. Sau cuộc vận động bầu cử, người đứng đầu nhà nước (tổng thống hoặc thủ tướng) và bầu cử quốc hội (thượng viện và hạ viện), đảng nào giành thắng lợi thì những chức vụ chủ chốt của nhà nước đều phần lớn do đảng ấy nắm giữ. Ví dụ, ở nước Mỹ, trong hiến pháp của họ không ghi đảng chính trị nào lãnh đạo nhưng trong luật thực định của họ, vận dụng khi bầu cử, tranh cử đã thể hiện rõ vai trò của hai đảng - Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa - luôn thay thế nhau, chia sẻ quyền lực với nhau trong vai trò của đảng cầm quyền. Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, chẳng hạn, năm 2012 ở nước Cộng hòa Pháp, chính phủ cánh hữu đã phải nhận thất bại, nhường quyền lãnh đạo nhà nước cho cánh tả, cụ thể là ứng cử viên của Đảng Xã hội trúng cử tổng thống. Tất cả các quốc gia dân chủ không úp mở việc đảng chính trị này hay đảng chính trị khác giành lấy quyền lãnh đạo nhà nước. Họ làm như thế nào để được nhân dân thừa nhận là việc nội bộ của từng nước. Nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua; họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai có thể ngớ ngẩn, rỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân. Ở nước Nga thời hậu Xô-viết, người ta cũng thành lập chế độ cộng hòa tổng thống theo cách thức của người Nga chứ không theo cách thức của người Anh để tái thiết lập chế độ Sa hoàng, và, Nhà nước Nga hiện nay cũng công khai thừa nhận Đảng Nước Nga thống nhất cầm quyền sau những cuộc đua tranh với các đảng chính trị lớn, như Đảng Cộng sản Nga, Đảng Nước Nga công bằng, Đảng Dân chủ tự do. Tóm lại, sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với nhà nước là quy luật chung, là tất yếu nhưng ở mỗi quốc gia quy luật đó được thể hiện khác nhau, pháp luật quy định khác nhau. Đó là lẽ bình thường.

Quan niệm của hồ Chí Minh và cách vận dụng của người đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo nhà nước

Thực tế lịch sử đã là căn cứ hùng hồn để khẳng định rằng tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nhà nước dân chủ mới do đảng cộng sản lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiền thân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, do Hồ Chí Minh, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là người sáng lập và trực tiếp đứng đầu Nhà nước ấy với tư cách là nguyên thủ quốc gia trong 24 năm (1945 - 1969), trực tiếp đứng đầu ngành hành pháp 14 năm (1945 - 1959). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước một cách kỳ tài, và tư tưởng của Người về đảng cộng sản lãnh đạo nhà nước đã trở thành chuẩn mực, thành nguyên tắc mà tất cả các thế hệ lãnh đạo kế tiếp Người, cho tới nay, vẫn cần phải học tập và noi theo. Ở đây không chỉ là học tập và noi theo về tấm gương đạo đức mà cần phải học tập và noi theo toàn diện: tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người, trong đó học tập về tư tưởng là căn cốt.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, theo phương pháp lịch đại, chúng tôi chỉ nêu một cách khái lược tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo Nhà nước để dõi theo sự phát triển tư tưởng của Người về Đảng lãnh đạo Nhà nước trong sự tương tác với sự phát triển của thời cuộc.

Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 không chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn quy định điều kiện Đảng phải có để giữ được vai trò lãnh đạo. Điều kiện đó là Đảng phải gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân, phải là đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nếu Đảng không tự xây dựng được mình theo những điều kiện đó thì Đảng không có tư cách là Đảng lãnh đạo.
Như trên đã nói, sự lãnh đạo của đảng chính trị đối với nhà nước là quy luật chung trong lịch sử phát triển của xã hội hiện đại, trong tất cả các nhà nước, kể từ khi nhà nước tư sản ra đời tới nay. Đối với Hồ Chí Minh thì vận dụng quy tắc chung ấy phải theo phương pháp tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nghĩa là sự lãnh đạo của đảng chính trị là nguyên tắc, là tất yếu, nhưng hình thức và sự thể hiện thì lại “vạn biến”, tức là có nhiều cách, nhiều biểu hiện khác nhau.

Ở Việt Nam thì Nhà nước dân chủ nhân dân hay Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa về bản chất vẫn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo (ngay tên gọi của Đảng cũng đã từng thay đổi: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Cộng sản Đông Dương - Đảng Lao động Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam). Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã là quy luật chung, thành nguyên tắc nhưng việc có ghi trong Hiến pháp hay không, thậm chí có tuyên bố hay không là tùy tình hình cụ thể. Đối với Hồ Chí Minh thì nguyên tắc “bất biến” là vừa phải giữ vững quyền lãnh đạo chính trị của Đảng với Nhà nước, vừa phải bảo đảm tôn vinh vai trò của Nhà nước, làm cho Nhà nước ta trở thành một nhà nước dân chủ mới. Nhà nước dân chủ mới có nghĩa là nhà nước phải trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc; nhà nước ấy phải trở thành ngôi nhà chung đáng tin cậy của tất cả mọi người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước.

Đây là sáng tạo độc đáo của Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh; nó không giống với bất kỳ nhà nước nào, dù là nhà nước được xây dựng theo mô hình xã hội chủ nghĩa trước đây hay nhà nước ở các nước khác đã xuất hiện và đang tồn tại trong lịch sử.

Năm 1946, trong bài trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài (ngày 21-1-1946) về vai trò và mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố: “Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”(1).

Trong Báo cáo Chính trị đọc trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(2). Năm 1955, khi cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn (giải phóng miền Bắc), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời một tờ báo của nước ngoài rằng: Đảng của chúng tôi đã trở thành “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”(3).

Rõ ràng những tuyên bố nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sách lược chính trị mà xuyên suốt một tư tưởng chỉ đạo chiến lược: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam là tất yếu lịch sử, nhưng muốn giữ vững được vai trò của đảng cầm quyền, Đảng ấy trước hết phải là một tổ chức “có tính quần chúng”, bao gồm những người ưu tú của dân tộc, Đảng ấy phải là “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động” và quan trọng hơn cả, Đảng ấy phải là “hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”, phải “là đạo đức, là văn minh”, phải quyết tâm giữ gìn độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mang lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Một Đảng như vậy sẽ thực sự là một đảng lãnh đạo tư tưởng, chính trị, đường lối cho một nhà nước dân chủ mới: nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách sáng suốt: Đảng lãnh đạo nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, Đảng không cai trị mà tôn vinh Nhà nước, Đảng lãnh đạo bảo đảm để Nhà nước có thực quyền làm chức năng quản lý mọi mặt của đời sống xã hội.

Về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước theo Hiến pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết vấn đề này rất uyển chuyển, vẫn trung thành với phép biện chứng “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nếu như Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo) không có ghi một dòng, một chữ nào về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thậm chí Người còn tuyên bố những điều như đã nói ở trên thì đến Hiến pháp năm 1959 (cũng do Người làm trưởng ban soạn thảo) trong Lời nói đầu đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời xác định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, như sau: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà. Nhân dân ta nhất định xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới”.

Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, mỗi cán bộ, đảng viên cần gương mẫu chấp hành pháp luật, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân; đồng thời, thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời trước khi nước nhà thống nhất nhưng Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử, trong đó Người đã nói rõ: “Đảng ta là đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Sau khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập thống nhất, năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân cả nước quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 18-12-1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Tại Điều 4 của Hiến pháp năm 1980 đã ghi Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội... Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Năm 1992 và lần sửa chữa, bổ sung Hiến pháp 1992 (theo Nghị quyết Quốc hội ngày 25-12-2001) trong Điều 4 có sửa chữa đôi chút và ghi Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Dự thảo lần này vẫn xác định quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nhưng cũng xác định rõ Đảng phải chịu trách nhiệm phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân và đặc biệt là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của mình. Dự thảo ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, theo tôi, là chặt chẽ, dân chủ và rõ ràng, trách nhiệm, thể hiện được vấn đề quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật, coi Hiến pháp là tối thượng, bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào, kể cả Đảng lãnh đạo, cầm quyền cũng không được ra các quyết định trái với Hiến pháp và pháp luật. Đó là một bước tiến đáng kể trong lịch sử lập hiến của nước ta.

Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước

Làm thế nào để các tổ chức nhà nước, các đoàn thể nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng là người lãnh đạo? Câu trả lời đã có trong di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “không phải bằng mệnh lệnh, đòi hỏi, bắt buộc Nhà nước và Mặt trận phải thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà “phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(4). Người cũng căn dặn: Đảng là mỗi đảng viên, nhiều đảng viên hợp lại mà thành. Do vậy, phải cố gắng gương mẫu chấp hành pháp luật, “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, phải tự cải tạo mình thành một công dân, một cán bộ gương mẫu. Nên nhớ, “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”(5).

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp mới là nguyên nhân cơ bản dẫn tới nguy cơ về suy giảm, thậm chí mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, với xã hội chứ không phải là vấn đề Hiến định hay không.

Chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là giải pháp hữu hiệu, là bảo đảm chắc chắn nhất cho vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước. Đảng chính trị lãnh đạo Nhà nước là tất yếu và Đảng phải thường xuyên, nghiêm túc tự chỉnh đốn, tự đổi mới cũng là tất yếu. Cả hai đều cùng tất yếu như nhau./.

----------------------------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 4, tr. 161 - 162

(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 6, tr. 175

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 7, tr. 517

(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 3, tr. 139 

(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 552

Trần Đình HuỳnhPGS, NCV cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh