Thứ Tư, 18/7/2018
Nền tảng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam
5/1/2018 8:28' Gửi bài này In bài này
PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương phát biểu khai mạc lớp tập huấn về lý luận quản lý văn học nghệ thuật - Nguồn: thainguyentv.vn

Lý luận văn nghệ mác-xít

1- Lịch sử phát triển tư tưởng của nhân loại đã cho thấy, một khi đạt đến tính khoa học phổ quát nhất định, một học thuyết tư tưởng có thể ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển của những lĩnh vực lý luận cụ thể. Với học thuyết Mác - Lê-nin, thế giới quan khoa học và cách mạng của học thuyết này đã đem đến một ánh sáng mới cho toàn bộ quan điểm lý luận về văn nghệ.

Mặc dù C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin không viết một công trình lý luận riêng biệt nào trực tiếp về văn nghệ nhưng từ trường hợp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, không ai khác, chính những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã luận giải khoa học những vấn đề cơ bản nhất của lý luận văn nghệ, như nguồn gốc của văn nghệ, chức năng, nhiệm vụ của văn nghệ, mối quan hệ giữa văn nghệ và đời sống xã hội, các thuộc tính của một nền văn nghệ cách mạng...

Trước hết, trong quá trình hoàn thiện tư tưởng triết học của mình, thông qua việc bàn về nguồn gốc của con người và quá trình hoàn thiện của con người trên các mặt tư duy, ngôn ngữ, sinh học, đặc biệt là sự phát triển của các giác quan, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã đặt nền móng đầu tiên cho lý luận văn nghệ, khẳng định được nguồn gốc của văn nghệ.

2- Luận điểm về lao động là nguồn gốc hình thành nên con người, ngôn ngữ và cũng không gì khác hơn, chính lao động có ý thức là nguồn gốc nảy sinh văn nghệ. Văn nghệ nảy sinh từ nhu cầu cần thiết của đời sống hằng ngày, từ thuở bình minh của xã hội loài người. Luận điểm này đã góp phần lý giải một cách khoa học sự hình thành cảm xúc thẩm mỹ từ những hoạt động của con người trong đấu tranh với thiên nhiên và xã hội. Nó chỉ ra cơ sở lý luận để bác bỏ những sai lệch khi nhận thức rằng nguồn gốc của văn nghệ là từ tôn giáo hay những quan niệm duy tâm thần bí khác, thậm chí, do nhu cầu có tính chất giải thoát của con người được nhiều nhà tư tưởng tư sản trước đó khẳng định.

Ðể sáng tạo nghệ thuật, không chỉ có bàn tay mà cần phải có bộ óc và các giác quan. Chính lao động đã làm cho bộ óc con người phát triển, ngôn ngữ phát triển, các giác quan ngày một tinh tế. Ph. Ăng-ghen nói: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu, đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn người, làm cho bộ óc dần dần chuyển thành bộ óc người... khi bộ óc phát triển, thì các công cụ trực tiếp của bộ óc, tức là các giác quan, cũng song song phát triển theo... Bộ óc và các giác quan phụ thuộc bộ óc càng phát triển lên, ý thức càng sáng suốt hơn, năng lực trừu tượng hóa và năng lực suy lí càng phát triển hơn, tất cả những cái đó tác động trở lại lao động và ngôn ngữ, đã không ngừng thúc đẩy lao động và ngôn ngữ không ngừng phát triển thêm... Nhờ hoạt động phối hợp của bàn tay, của các khí quan phát âm và bộ óc, chẳng những ở mọi cá nhân mà ở cả trong xã hội nữa, loài người đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn”(1).

Rõ ràng, cùng với việc nâng tư thế con người đứng thẳng lên, sáng tạo ra bàn tay tài tình, lao động còn đặc biệt sáng tạo ra bộ óc kì diệu cùng các giác quan, tức là sáng tạo ra năng lực cảm giác của con người và thế giới tâm hồn con người. Mác viết: “Chỉ nhờ sự phong phú của sinh thể người được mở ra trong thế giới vật chất thì mới phát triển, và phần nào, phần đầu tiên mới nảy sinh ra sự phong phú của con người về mặt cảm tính chủ quan: cái tai biết nghe nhạc, con mắt cảm thấy được vẻ đẹp của hình thức, nói tóm lại, là những giác quan có khả năng hưởng thụ theo kiểu người và tự khẳng định mình như là những sức mạnh bản chất của con người. Bởi vì, không chỉ năm giác quan bên ngoài, mà cả giác quan được gọi là giác quan tinh thần, giác quan thực tiễn (ý chí, tình yêu...) tóm lại là giác quan con người, tính người của giác quan đã xuất hiện nhờ sự có mặt của một đối tượng phù hợp, có một tự nhiên đã được người hóa”. Như vậy, giác quan của con người đã không chỉ là giác quan người lao động mà còn là giác quan nghệ sĩ.

3- Sau này, ở tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, trong quá trình phân tích làm rõ lao động sáng tạo nên con người, Ph. Ăng-ghen cũng đồng thời chỉ ra rằng, trong những nhân tố góp phần quyết định sự phát triển của những cảm xúc, thì tác phẩm nghệ thuật có một vị trí quan trọng. Sự nảy nở và phát triển của nghệ thuật là một hiện tượng khách quan trong đời sống nghệ thuật và trình độ phát triển xã hội với những tiền đề cần thiết của nó. Nghệ thuật là một hoạt động tinh thần mà con người có thể tạo ra cho mình nhưng nó không phải là một sản phẩm tự nhiên, tùy thích, và, bản thân việc thưởng thức, tiếp nhận của con người cũng không phải là hoàn toàn tự nhiên. Hoạt động văn nghệ cũng nằm trong quy luật phát triển và chịu sự ràng buộc, giới hạn bởi những giới hạn nhận thức đó.

Có thể nói, với nhận thức “đưa văn nghệ trả về với nguồn gốc lao động”, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã trả văn nghệ về với cội nguồn thực của nó. Sức mạnh của văn nghệ không mang ý nghĩa tự thân, thoát ly khỏi mọi ràng buộc xã hội mà luôn được tiếp sức từ thực tiễn cuộc sống và phát huy sức mạnh đó trong cuộc đấu tranh xã hội.

Cùng với luận giải về nguồn gốc của văn nghệ, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, thông qua việc khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã xác định vị trí, chức năng và tác động của văn nghệ đối với đời sống xã hội. Từ luận điểm: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội; tồn tại xã hội cũng quyết định tính chất cách mạng hay phản ánh cách mạng, đối kháng hay không đối kháng trong ý thức xã hội; khi tồn tại xã hội thay đổi, nhất là phương thức sản xuất thay đổi, thì những tư tưởng và lý luận xã hội cũng thay đổi theo, C. Mác và Ph. Ăng-ghen xác định văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội nằm trong kiến trúc thượng tầng, chịu sự tác động của cơ sở kinh tế. Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(2). Do đó, một nền văn học, nghệ thuật nảy sinh, phát triển, suy tàn không phải ngẫu nhiên mà quy luật nội tại và trực tiếp chịu sự tác động của những điều kiện kinh tế - xã hội, của cơ sở kinh tế và các hình thái ý thức xã hội khác. Văn nghệ là một loại hoạt động tinh thần, một vũ khí tinh thần, do đó văn nghệ không thụ động mà cũng vận động, chuyển biến trong sự tác động qua lại giữa ý thức và tồn tại khách quan.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về sự phản ánh qua các tác phẩm văn nghệ ở những chế độ xã hội đó, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ mối liên hệ giữa việc phản ánh sinh động của văn nghệ và hiện thực xã hội. Sự phát triển của văn nghệ không phải ngẫu nhiên, tùy tiện theo ý muốn chủ quan của người cầm bút mà phụ thuộc vào những quy luật khách quan của xã hội, trước hết là quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp trong mỗi thời kỳ lịch sử.

4- Tìm hiểu về những nhân tố tác động trực tiếp đến văn nghệ, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã vận dụng hiệu quả học thuyết đấu tranh giai cấp để phân tích, lý giải các hiện tượng, qua đó cho thấy sự chi phối của hệ tư tưởng giai cấp đến ý thức của người sáng tạo. Cũng từ đây, C. Mác và Ph. Ăng-ghen, sau này là V.I. Lê-nin và các nhà lý luận văn nghệ mác-xít đã có những vận dụng sáng tạo để giải quyết nhiều vấn đề của văn nghệ, trước hết là tính đảng, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân, tính nhân loại và sự sáng tạo nghệ thuật.

C. Mác đã chỉ ra rằng, sự tồn tại của giai cấp bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện kinh tế nhất định. Trong khi đó, văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng, khi bản chất cơ sở là bản chất giai cấp thì văn nghệ nảy sinh trên cơ sở ấy tất yếu mang tính giai cấp. Mặt khác, văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội, như các hình thái ý thức xã hội khác, có tác dụng phục vụ, duy trì, bảo vệ cơ sở hạ tầng; khi cơ sở mà nội dung trọng yếu của nó là đấu tranh giai cấp thì văn nghệ có nhiệm vụ phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp đó. Các giai cấp cầm quyền luôn luôn có ý thức sử dụng kiến trúc thượng tầng để duy trì lợi ích giai cấp mình. Văn nghệ là một trong những vũ khí lợi hại của giai cấp. Các giai cấp tận dụng triệt để sức mạnh của văn nghệ, dùng nó làm vũ khí đấu tranh cho lợi ích giai cấp mình. Vì vậy, văn nghệ là vũ khí đấu tranh giai cấp.

Ðứng ở góc độ nhận thức luận, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội nên nó phản ánh tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội chủ yếu là quan hệ giữa các giai cấp và đấu tranh giai cấp thì văn nghệ - hình ảnh của tồn tại đó, tất yếu phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp. Phản ánh hiện thực là thuộc tính cơ bản của văn nghệ. Dù muốn hay không thì khi sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ bao giờ cũng phản ánh vào trong tác phẩm của mình mặt này, mặt kia của tồn tại xã hội, đời sống xã hội. Khi tồn tại xã hội mang bản chất giai cấp thì văn nghệ tất yếu phản ánh các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Ðiều đặc biệt quan trọng là tác phẩm văn nghệ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, khi chủ thể nhận thức mang bản chất giai cấp thì sản phẩm ý thức của nó - tác phẩm văn nghệ, tất yếu mang bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, nhà văn là “con đẻ” của một giai cấp nhất định. Sau này, kế thừa ánh sáng của học thuyết Mác, V.I. Lê-nin khẳng định: Không một người nào đang sống mà lại có thể không đứng về một giai cấp này hay một giai cấp khác. Tác phẩm văn nghệ là ý thức, là tư tưởng, là hiện thực được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nghệ sĩ mang bản chất giai cấp, tất yếu mang tính giai cấp. Hơn thế, nhà văn là công dân giai cấp, đồng thời còn là người phát ngôn, đại biểu cho lợi ích giai cấp. Còn, văn hào M. Goóc-ki viết: Nhà văn là con mắt, là lỗ tai, là tiếng nói của một giai cấp. Vì thế, khi phản ánh hiện thực, sáng tạo nghệ thuật, nhà văn không thể không xuất phát từ lập trường, quan điểm, từ nguyện vọng và lợi ích của giai cấp mình.

5- Tính đảng cộng sản là nguyên tắc tối cao, là linh hồn của toàn bộ nền nghệ thuật mác-xít. Bởi vì, tính đảng không gì khác hơn là sự biểu hiện tập trung nhất và cao nhất của tính giai cấp. Xã hội phân chia giai cấp thì cá nhân con người trong xã hội đó bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và mang bản chất giai cấp. V.I. Lê-nin chỉ rõ: Trong xã hội dựa vào sự phân chia giai cấp thì đến một mức độ phát triển nhất định của nó, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp thù địch nhất thiết sẽ trở thành cuộc đấu tranh chính trị. Cuộc đấu tranh giữa các đảng phái là biểu hiện hoàn chỉnh, đầy đủ, rõ rệt nhất của cuộc đấu tranh chính trị giữa các giai cấp. Giai cấp và đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn tới hình thành các tổ chức đảng tương ứng. Nếu như đảng là hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp thì tính đảng là biểu hiện tập trung nhất, cao nhất của tính giai cấp. V.I. Lê-nin khẳng định: Tính đảng nghiêm túc là người bạn đường và là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến cao độ. Là một vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giai cấp và khi cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến cao độ, thì lúc đó, văn nghệ tự nó đã mang tính đảng, theo nghĩa rộng rãi nhất của nó. Vì vậy, tính đảng của văn nghệ mác-xít là khái niệm phản ánh mối liên hệ giữa văn nghệ với giai cấp vô sản và chính đảng của nó. Trong xã hội có giai cấp, văn nghệ, không thể khác, cũng mang tính giai cấp. Văn nghệ của giai cấp tiến bộ sẽ được thừa hưởng tính chất tiến bộ của giai cấp đó. Văn nghệ của giai cấp lạc hậu, phản động, theo đó và nhìn chung, cũng mang tính lạc hậu, phản động của giai cấp mà nó phục vụ. Tuy nhiên, trong lịch sử văn nghệ nhân loại, chúng ta cũng thấy có hiện tượng khi một triều đại, một chế độ xã hội bảo thủ, thậm chí, phản động suy tàn, nhưng có những tác phẩm xuất sắc của những nghệ sĩ chân chính “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” vẫn còn lưu truyền và phát huy tác dụng tích cực lâu dài đối với đất nước, với cộng đồng. Ðiều đó cho thấy, bên cạnh mối liên hệ với giai cấp thì văn nghệ còn có mối liên hệ lâu dài, rộng lớn hơn, bền chặt với quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo nên lịch sử. Ðặc điểm này của văn nghệ được gọi là tính nhân dân.

Nếu như tính nhân dân là khái niệm phản ánh mối liên hệ giữa văn nghệ với nhân dân thì tính dân tộc là khái niệm phản ánh mối liên hệ giữa văn nghệ và dân tộc, là tổng hòa những đặc sắc về nội dung và hình thức của sáng tác làm nên gương mặt văn nghệ của dân tộc. Tính dân tộc của văn nghệ là một phạm trù thẩm mỹ mang dấu ấn lịch sử. Nó gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, do đó, nó biến đổi không ngừng. Tính dân tộc không phải là một hệ thống khép kín những yếu tố “nhất thành bất biến” nào đó. Mà ngược lại, nó gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và biến đổi, phát triển không ngừng. Do những điều kiện lịch sử - xã hội mà qua từng thời kỳ lịch sử, tính dân tộc được bổ sung những nội dung mới.

6- Mặc dù C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã đặt nền móng cho quan điểm lý luận cách mạng về văn nghệ, tuy nhiên, hệ thống quan điểm này không phải là sự phủ định sạch trơn di sản lý luận của nhân loại trước đó mà có sự chọn lọc, kế thừa, phát huy những hạt nhân khoa học, tiến bộ. Tinh thần khoa học, sự cầu thị của những người sáng lập chủ nghĩa Mác đã thể hiện rõ trong việc tiếp thu trân trọng những giá trị tinh thần của quá khứ, đặc biệt là những trào lưu tư tưởng tiến bộ, nhân văn. C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã phê phán triệt để mọi quan điểm lý luận văn nghệ sai lệch, phản động, đồng thời làm sáng tỏ những vấn đề còn mơ hồ, lẫn lộn, mở ra một phương hướng mới cho hệ thống lý luận mỹ học và văn nghệ của giai cấp vô sản. C. Mác, Ph. Ăng-ghen luôn nhìn nhận, nghiên cứu văn nghệ trong sự vận động của nó. Đó là sự vận động của ý thức xã hội, của kiến trúc thượng tầng, chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng và sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác. C. Mác và Ph. Ăng-ghen luôn thấy rõ trong lĩnh vực sáng tạo tinh thần, những tinh hoa của quá khứ luôn được kế thừa, phát triển qua các thời đại.

Quan điểm về mối quan hệ giữa văn nghệ đời sống xã hội; lao động là nguồn gốc cho sự nảy sinh, phát triển ý thức, qua đó nảy sinh, phát triển văn nghệ đã góp phần xác định đúng đắn chức năng của văn nghệ - một hoạt động tinh thần rất năng động, phong phú trong đời sống xã hội. Văn nghệ nảy sinh do nhu cầu thiết yếu của đời sống từ buổi bình minh của xã hội loài người. Luận điểm về lao động là nguồn gốc của văn nghệ đã góp phần giải thích sự hình thành cảm xúc từ những hoạt động của con người trong đấu tranh với thiên nhiên và trong xã hội.

Những quan điểm lý luận văn nghệ sâu sắc đó của C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã góp phần trực tiếp vào nhiệm vụ đấu tranh chính trị, tư tưởng, khẳng định sứ mệnh của văn học, nghệ thuật chân chính, phê phán, đấu tranh với những khuynh hướng lệch lạc, phản động của giai cấp tư sản, của văn nghệ tư sản.

7- Kế tục cơ sở lý luận văn nghệ cách mạng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, trong thời kỳ lịch sử mới, V.I. Lê-nin tiếp tục có những bổ sung, phát triển lý luận văn nghệ mác-xít. Cũng như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, những luận điểm lý luận của V.I. Lê-nin không tập trung vào một tác phẩm cụ thể, song các hoạt động của ông trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng đã để lại một số lượng tác phẩm lớn, một kho tàng kiến thức đồ sộ, trong đó có hệ thống lý luận văn nghệ cách mạng. V.I. Lê-nin đi sâu vào 3 vấn đề trọng tâm: nhận thức luận mác-xít về những vấn đề đặc trưng trong sáng tác văn nghệ; nguyên tắc tính đảng trong văn học; vấn đề tiếp thu di sản quá khứ và những nguyên tắc xây dựng nền văn hóa vô sản. Đặc biệt, đi sâu vào lý luận về nhận thức, V.I. Lê-nin nêu một cách hoàn chỉnh lý luận về phản ánh.

8- Là một hình thái ý thức xã hội, như mọi hình thái ý thức khác, văn học, nghệ thuật phản ánh tồn tại xã hội. Quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực là một biểu hiện của quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa cái phản ánh và cái được phản ánh. Như thế, hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, văn chương là một hình thái ý thức; một hình thức nhận thức; do đó, hiện thực đời sống là nguồn gốc của văn nghệ, là mảnh đất nuôi dưỡng văn nghệ, là chìa khóa để giải thích mọi hiện tượng, dù là phức tạp nhất của văn nghệ. Cũng chính từ cơ sở lý luận này mà đối tượng của văn nghệ là hiện thực khách quan, là con người và đời sống xã hội. Như thế, bất kỳ một nền văn nghệ nào cũng hình thành trên cơ sở một hiện thực xã hội nhất định; bất kỳ một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ của những vấn đề của cuộc sống, bất kỳ một nhà văn nào cũng thoát thai từ một môi trường sống nhất định. Phản ánh hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn nghệ.

Khẳng định văn nghệ phản ánh hiện thực, nhưng V.I. Lê-nin cũng cho rằng không nên hiểu một cách hạn hẹp, xơ cứng khái niệm “hiện thực” để rồi hiểu sự phản ánh hiện thực của văn chương như là sự tái hiện một cách giản đơn các hiện tượng, các sự kiện lịch sử - xã hội cụ thể nào đó. Cần hiểu “hiện thực” là bao gồm cả tự nhiên bao quanh con người, con người, cả môi trường xã hội, cả các quan điểm và học thuyết chính trị, xã hội, cả tư tưởng, tâm trạng... Trung tâm hiện thực là con người, nhưng nội dung hiện thực của tác phẩm chủ yếu không phải là ở các chi tiết xã hội, ở việc ghi chép mô tả cho nhiều các sự kiện, hoạt động bên ngoài con người. Hiện thực độc đáo của văn nghệ là thế giới tinh thần, tình cảm, tâm lý của con người xã hội. Con người trung tâm của hiện thực là con người kết tinh của những quan hệ xã hội - “tổng hòa của những quan hệ xã hội” nhưng không phải là con người được trừu tượng hóa với những phẩm chất người nói chung mà là con người cá nhân, con người số phận, thân phận.

9- Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng những ý kiến, quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin bàn về văn học, nghệ thuật, từ những năm bảy mươi của thế kỷ XIX đến Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và nửa cuối thế kỷ XX, lý luận văn nghệ mác-xít đã hình thành và phát triển mạnh mẽ, để lại thành tựu to lớn trong kho tàng lý luận văn nghệ của thế giới. Sự phát triển và những thành tựu đó không chỉ thể hiện ở từng nước với những mô hình lý luận khác nhau trên cùng một vấn đề mà thậm chí còn ở cả cách xây dựng từng mô hình lý luận với những quan điểm khác nhau, như các nguyên lý cụ thể về sự phản ánh thực tại; chức năng nhận thức, giáo dục của văn học, nghệ thuật; quan điểm thực tiễn và quan điểm lịch sử trong đánh giá các hiện tượng nghệ thuật; tính khuynh hướng của văn học, nghệ thuật và vai trò của văn học, nghệ thuật trong cuộc đấu tranh giai cấp; nội dung quyết định hình thức... Tuy nhiên, sự đa dạng đó đứng trên nền tảng của phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử - linh hồn của nhận thức luận, phản ánh luận mác-xít. Lập trường duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác thể hiện ở hệ thống luận điểm về nguồn gốc, bản chất của văn nghệ; lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của cá nhân và xã hội là nguồn cội của văn học, nghệ thuật; văn học, nghệ thuật là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi thời đại; hoàn cảnh kinh tế - xã hội quy định cả đối tượng phản ánh lẫn cách thức phản ánh hiện thực đời sống của văn học nghệ thuật; học thuyết về mâu thuẫn, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập như là động lực tạo nên mọi sự phát triển, là nguyên nhân sự phát triển không đồng đều giữa các nền văn nghệ... Nói một cách khác, ở bình diện nhận thức luận, lý luận văn học mác-xít khẳng định nghệ thuật là hình thái ý thức đặc thù thuộc kiến trúc thượng tầng, song song tồn tại và có quan hệ tương tác với các hình thái ý thức xã hội khác. Ở bình diện hệ tư tưởng, lý luận văn nghệ mác-xít đề cao nguyên tắc tính đảng và yêu cầu văn nghệ phục vụ chính trị.

Tất cả những điều vừa nêu làm nên sự thống nhất trong sự đa dạng của một hệ thống lý luận văn nghệ, là sự tiếp nối và phát triển của những quan điểm thống nhất trên cơ sở một học thuyết về chính trị, kinh tế, xã hội xuất hiện từ thế kỷ XIX ở châu Âu, trở thành những tư tưởng khoa học sâu sắc, cơ bản, làm nền tảng cho những lý luận văn học, mỹ học cụ thể.

Lý luận văn nghệ mác-xít: Nền tảng lý luận văn nghệ Việt Nam

1- Ở Việt Nam, lý luận văn nghệ mác-xít đã có trên 8 thập niên gắn bó mật thiết với văn học, nghệ thuật cách mạng. Từ Luận cương Chính trị năm 1930, sự nghiệp văn hóa mới đã được đề cập và 13 năm sau, trong Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta xác định rõ nội dung, tính chất của nền văn hóa mới được lựa chọn để phát triển. Đó là nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Đây có thể coi là quan điểm, tư tưởng cơ bản, đặt nền móng cho văn hóa cách mạng, cho lý luận văn nghệ mác-xít tại Việt Nam. Nhờ phép biện chứng duy vật mà nhiều ngụy thuyết duy tâm, thần bí đã bị đẩy lùi. Cũng nhờ phương pháp luận mác-xít mà nhận thức, quan điểm về mỹ học, về phương pháp luận trong lý luận văn nghệ ngày càng sáng rõ. Cũng từ đây, tư duy lý luận văn nghệ mác-xít dần đi vào đời sống, trở thành cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt động nghiên cứu, phê bình, sáng tác văn học, nghệ thuật, có sức lay động trí tuệ, tâm hồn của hầu hết các nhà văn, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu; củng cố lòng tin, soi tỏ bước ngoặt “nhận đường” của văn nghệ và văn nghệ sĩ, tạo ra những thành tựu rực rỡ, to lớn cho văn nghệ cách mạng qua các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, lý luận văn nghệ cách mạng trên nền tảng lý luận mác-xít đã xác định diện mạo mới của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Khác với giai đoạn trước đó, nền văn học nghệ thuật giai đoạn này phát triển chủ yếu trong bối cảnh đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một chính thể dân chủ cộng hòa. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được phổ biến sâu rộng ở Việt Nam, làm nền tảng, kim chỉ nam cho văn hóa, văn nghệ Việt Nam. Các nhà lãnh đạo cách mạng coi văn hóa, văn nghệ là một mặt trận quan trọng. Toàn bộ nền văn nghệ Việt Nam lúc bấy giờ được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Mục tiêu chính của văn nghệ là phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cổ vũ kháng chiến kiến quốc, phục vụ đại chúng.

Một nền văn nghệ với tính đảng, tính dân tộc, khoa học và thời đại cũng trên cơ sở đó được hình thành, phát triển và đạt những thành tựu to lớn. Hầu hết các tác phẩm đều mang hơi thở của cuộc sống. Không gian văn học, nghệ thuật mở rộng phản ánh đa dạng đời sống xã hội. Đội ngũ sáng tác văn học, nghệ thuật phát triển nhanh chóng, sâu rộng, góp phần tạo nên sự lớn mạnh của văn nghệ cách mạng.

2- Sau ngày đất nước thống nhất, văn nghệ Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ cả về nội dung, hình thức, không gian, đội ngũ lẫn hiện thực phản ánh. Văn học, nghệ thuật phát triển trong bối cảnh giao lưu hội nhập, trong sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, truyền thông. Lúc này, lý luận văn nghệ mác-xít phải đối mặt với những thách thức ở hai phương diện:

Một là, văn nghệ thế giới đa dạng hóa trong điều kiện toàn cầu hóa, bao gồm đa dạng hóa về lý luận văn nghệ và đa dạng hóa về thực tiễn văn nghệ. Đặc biệt là sự thách thức của lý luận và thực tiễn văn nghệ của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại.

Hai là, khoa học kỹ thuật cao do truyền thông điện tử và văn nghệ mang tới, làm cho văn học đi vào thời đại sáng tác điện tử và truyền thông kỹ thuật số.

Trước những thách thức đó, lý luận văn nghệ mác-xít ở Việt Nam cần được định hướng ra sao? Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ Chính trị Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới khẳng định: “Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Một nền lý luận văn nghệ dân tộc, tiên tiến, mang bản sắc Việt Nam là gì? đang đứng trước những thách thức nào? Từ lâu nay, nhất là những năm gần đây, một số người lớn tiếng phê phán, bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin cố ý hay vô tình quên đi một số vấn đề sau: Thứ nhất, chủ nghĩa Mác ra đời vào thế kỷ XIX không hề là sự ngẫu nhiên mà là sự tiếp nối và kết tinh tư tưởng văn minh của nhân loại; Thứ hai, tính lịch sử đi kèm với giới hạn của bất cứ học thuyết nào, kể cả chủ nghĩa Mác; Thứ ba, mọi hệ thống tư tưởng, lý luận, dẫu ưu việt đến đâu, cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề vốn “muôn hình vạn trạng”, lại luôn nảy sinh, luôn biến đổi tùy từng nơi, từng lúc; Thứ tư, hiệu quả vận dụng mọi lý thuyết, mọi hệ tư tưởng bao giờ cũng tùy thuộc vào mục đích và năng lực của người vận dụng.

Vì thế, trên đại thể, ngày nay chúng ta đồng thuận là lý luận văn nghệ phải kế thừa những tinh hoa của di sản nhân loại, của dân tộc, của cách mạng đã tích lũy được trong nhiều năm qua, đồng thời làm một cuộc tổng hợp mới, thu hút những tinh hoa, những mặt mạnh trong kho tàng lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác, của cách mạng... mà trước đây, vì nhiều lẽ, chưa thu hút được đầy đủ, có tính hệ thống. Một đất nước, như đất nước ta chẳng hạn, có bao nhiêu đặc điểm, đặc thù của truyền thống, hiện đại và tương lai cần tính đến. Nó đặt ra vấn đề là làm sao duy trì, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hòa quyện với tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, mạnh dạn tiếp biến những thành tựu lý luận mới của nhân loại như là một yếu tố tích cực của toàn bộ hệ thống lý luận của chúng ta.

3- Thực tế cho thấy, sự du nhập và ảnh hưởng của một số trường phái lý luận hiện đại phương Tây với khuynh hướng tách con người ra khỏi xã hội, lịch sử...; đề xuất một số hướng nghiên cứu thuần túy hình thức; cô lập hình thức ra khỏi nội dung, tuyệt đối hóa hình thức nghệ thuật... Những khuynh hướng đó tuy đạt một số kết quả, đưa ra một số phương pháp mới... nhưng rõ ràng đã không tránh khỏi sự thu hẹp chân trời lý luận và văn nghệ bởi không dựa trên một cảm hứng lớn và mới, không thể đạt được những giá trị nghệ thuật mới có giá trị. Chẳng hạn, trên bình diện văn học, theo nhiều nhà nghiên cứu, chủ nghĩa hậu hiện đại - một trào lưu tư tưởng xuất hiện sau thế chiến thứ hai ở các nước phương Tây, đưa đến 4 dấu hiệu đặc trưng là: Một là, đơn giản hóa đặc trưng văn học, phản đối tính độc lập, tự chủ của văn học, muốn xóa nhòa ranh giới văn học và cuộc sống, văn học và văn hóa, văn học đỉnh cao và những gì gọi là thông tục. Chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương đại chúng hóa và sinh hoạt hóa nghệ thuật. Họ cho rằng, người người đều có thể thể nghiệm cuộc sống, người người đều là nhà nghệ thuật, “cao nhã” và “thông tục” với ý nghĩa của truyền thống ở văn học hậu hiện đại hòa nhập thành một thể. Hai là, bình diện hóa, thủ tiêu mô thức ở độ sâu sắc. Chủ nghĩa hậu hiện đại cho rằng tác phẩm chỉ là cung cấp một kinh nghiệm, không cần phải thuyết minh và giải thích. Độc giả khi đọc tác phẩm thấy thích, phấn khởi, đau khổ, buồn tủi, sau đó hóa giải thành không. Do đấy họ tán tụng “chủ nghĩa chân thực khách quan”, miêu tả thế giới mình cảm nhận được một cách không hề có xúc cảm. Ba là, coi trọng trạng thái vô thức của quá trình sáng tác. Coi quá trình đó là điểm xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của hoạt động văn học của họ. Quá trình sáng tác là thể nghiệm kinh nghiệm của nhà văn, tác phẩm đương nhiên trở thành sản phẩm biểu lộ ý thức tự do của nhà văn, không có bất cứ một cái khung và hạn chế nào. Họ đặc biệt nhấn mạnh trạng thái vô thức trong sáng tác của nhà văn, từ tầng sâu nhân cách trưng hiện ra khát vọng của “bản ngã”, tùy tiện gộp những kinh nghiệm tình cờ có được lại với nhau. Bốn là, tuyệt đối hóa trò chơi trong sáng tác văn học. “Chơi” văn học, “chơi” trò chơi ngôn ngữ, “chơi” kết cấu lắp ghép. Chủ nghĩa hậu hiện đại coi văn học như một trò chơi, cho sáng tác như trẻ con chơi xếp gỗ, có thể tùy ý ghép những mảnh gỗ thành đủ mọi hình, có thể có nhiều cách hiểu.

4- Trước sự phong phú và cả sự phức tạp của các trào lưu lý luận mới, trong đó không loại trừ cả những âm mưu tìm cách phủ nhận mọi thứ gắn với chủ nghĩa xã hội (bao gồm cả chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và những thành tựu văn nghệ cách mạng - kháng chiến ở Việt Nam - những thành tựu đã trở thành những giá trị bất hủ của dân tộc), chúng ta kiên định giữ vững ngọn cờ, đồng thời biết chủ động đổi mới, linh hoạt, thông minh,... sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, làm một cuộc tổng hợp văn hóa và lý luận mới, thích hợp với thời đại.

Tuy nhiên, cũng cần tránh một biểu hiện cực đoan khác, chủ yếu ở vào giai đoạn trước đây, khi còn Chiến tranh lạnh, là phủ định, gạt bỏ, lên án gay gắt bất cứ trào lưu nào của văn học, văn hóa, lý luận phương Tây, không thấy rằng, bên cạnh những hạn chế còn có một số nhân tố tiến bộ, nhân văn.

Lý luận mà tách rời thực tế, tách rời tình hình sẽ là thứ lý luận suông, sách vở, kinh viện. Thứ lý luận như thế mất tính chiến đấu, tính sáng tạo, tính thuyết phục. Cho nên, quan tâm đến tính chính trị của vấn đề, quan tâm đến hiệu quả thực tiễn của vấn đề, quan tâm đến tổ chức, đến sự vận động của lý luận trong đời sống hằng ngày, trong thực tiễn văn nghệ, tổng kết nó, lý giải nó, điều chỉnh nó,... là việc không thể thoái thác, không thể không làm. Lý luận phải luôn luôn đi đôi với thực hành, và từ thực hành mà tổng kết và củng cố, phát huy lý luận. Vì vậy, có thể mở hết cỡ các cửa, đồng thời phải cảnh giác trong khi mở. Vì văn hóa văn nghệ là mặt trận, nhiều khi là mặt trận tuyến đầu, phức tạp, căng thẳng. Chúng ta dốc sức vượt qua mọi lực cản, để xây dựng một nền lý luận văn nghệ lành mạnh, trong sáng, dân tộc và nhân văn, hiện đại và khoa học.

Trên cơ sở phép biện chứng mác-xít, chúng ta có thể tiếp nhận những phát hiện khoa học của hầu như tất cả lý luận phương Đông, phương Tây trong thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Hệ thống lý luận văn nghệ của chúng ta là một hệ thống mở, cơ sở của nó vẫn là những nguyên lý vĩnh hằng về mối quan hệ giữa văn nghệ với cuộc đời, với con người, thể hiện chủ nghĩa nhân văn, khát vọng chân - thiện - mỹ.

5- Để lý luận văn nghệ mác-xít tiếp tục khẳng định vị thế nền tảng trong hệ thống lý luận văn nghệ của chúng ta, cần quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về Xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong tình hình mới và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, lý luận văn nghệ mác-xít cần có bước phát triển mới trên tinh thần dân tộc và thời đại. Tinh thần đó phải được hiểu là sự kết hợp sáng tạo chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay và cần đáp ứng cả 3 yêu cầu:

Về thời gian, trên những nguyên lý cơ bản của lý luận mác-xít về văn hóa, văn nghệ, đưa lý luận mác-xít lên tầm cao mới, đổi mới phát triển cùng với những thay đổi của thời đại, không ngừng sáng tạo lý luận, khiến cho lý luận nắm bắt và phản ánh được những vấn đề của thời đại, trở thành tinh hoa của thời đại.

Chủ nghĩa Mác không ngừng được bổ sung và phát triển cùng với thời gian là có tính tất yếu nội tại của nó. Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác gắn với một giai đoạn lịch sử nhất định, vì thế, khi lịch sử đã phát triển thì quan điểm lý luận cũng phải được phát triển phù hợp. Một số vấn đề mà lý luận văn nghệ mác-xít còn ít đề cập hoặc đề cập chưa thỏa đáng, như: chưa đề cập tới vấn đề đặc trưng khác biệt của văn nghệ so với các hình thái ý thức xã hội khác, mà thiên về bàn đến tính thống nhất của chúng trong kiến trúc thượng tầng; chưa đề cập đến vấn đề sáng tạo gắn với cá tính hóa và chủ thể hóa; chưa đề cập đến tầm quan trọng của hình thức nghệ thuật; chưa tiếp cận tính hiện đại với những phát hiện mới trong khoa học về vô thức, về tâm lý học hiện đại, tín hiệu học hiện đại...; nhấn mạnh tính phù hợp cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, mà ít đề cập đến văn hóa, một yếu tố cực kì quan trọng nằm trung giới giữa hạ tầng và thượng tầng; chưa làm rõ vai trò của người tiếp nhận văn học, nghệ thuật.

Những vấn đề nêu trên có thể còn những ý kiến bàn luận, nhưng một điểm không thể phủ nhận là những vấn đề đó phản ánh sự thực khách quan của sự phát triển của thời đại mà lý luận văn nghệ mác-xít cần bổ sung để làm sâu sắc thêm nhận thức về vấn đề này.

Về không gian, phải kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tình hình thực tế của đất nước, phải định ra biện pháp thích hợp cho từng nơi, thực tiễn hóa chủ nghĩa Mác. Đối với vấn đề này, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã từng chỉ rõ trong Lời tựa viết cho bản tiếng Đức Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “...Những nguyên lý tổng quát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn còn hoàn toàn đúng”, nhưng đồng thời các ông cũng nhấn mạnh “Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt điều này theo những cách giản dị và cô đọng, Người nói: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”, “Lý luận kết hợp với thực hành”, “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, “Lý luận phải liên hệ với thực tế”. Dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”(3).

Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.

Về điều kiện, tinh thần thời đại là chỉ tính hữu hiệu và tính vận dụng của nguyên lý chủ nghĩa Mác, cần phải phù hợp với sự thay đổi của điều kiện. Phải thấy rõ, một số quan điểm và kết luận quan trọng của chủ nghĩa Mác đều được kiến lập trong một số điều kiện quan trọng không thể xem nhẹ. Ví như về động lực phát triển xã hội, C. Mác đã từng chỉ ra, từ xã hội nguyên thủy đến nay, đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, mà đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản càng là đòn bẩy căn bản biến đổi xã hội hiện đại. Nhưng vận dụng nguyên lý đó phải căn cứ vào điều kiện cụ thể. Khi giai cấp bóc lột với tư cách là một chế độ xã hội đã bị xóa bỏ, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã giành được thắng lợi, nếu vẫn tiếp tục xem đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp giống như thời kỳ chưa giành được chính quyền, thì có thể dẫn đến sai lầm khuếch đại hóa đấu tranh giai cấp. Vì thế, thoát ly điều kiện khách quan, vận dụng lý luận một cách máy móc, không chỉ không thể tạo điều kiện để phát triển nền văn nghệ dân tộc, khoa học, đại chúng mà còn có thể xuyên tạc nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, bóp nghẹt sức sống của nguyên lý mác-xít.

6- Tóm lại, nói vấn đề thời đại của lý luận mác-xít, chính là nói lý luận mác-xít cần phải thay đổi đúng đắn theo thời gian, không gian, điều kiện; không ngừng có sự điều chỉnh, bổ sung và thay đổi tương ứng. Đối với vấn đề này, Ph. Ăng-ghen từng nhiều lần nhấn mạnh: Toàn bộ thế giới quan của Mác không phải là một học thuyết, mà là một phương pháp. Nó không đem lại những giáo điều có sẵn, mà đem lại những điểm xuất phát cho việc tiếp tục nghiên cứu và phương pháp cho sự nghiên cứu đó.

Tất nhiên, để có tinh thần này trong quá trình xây dựng, đổi mới hệ thống lý luận văn nghệ nói chung, phát triển lý luận văn nghệ mác-xít nói riêng, khẳng định di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng của lý luận văn nghệ, cần thực hiện một số yêu cầu đồng thời là nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc bất di bất dịch. Đây vừa là một trong những trọng trách của Đảng, một trong những lĩnh vực then chốt của công tác xây dựng Đảng, vừa là tất yếu, là nhu cầu phát triển của chính công tác lý luận văn nghệ của chúng ta. Đảng phải ngang tầm với nhiệm vụ lãnh đạo đất nước, trọng trách chính trị - lịch sử mà Đảng gánh vác, trước hết là bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn.

Hai là, bảo vệ và không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng về văn nghệ. Việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác lý luận văn nghệ cũng bao hàm cả việc làm giàu hơn, phong phú hơn kho tàng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách thâu thái trên tinh thần cầu thị khoa học tất cả tinh hoa thành tựu lý luận trên thế giới, mà chính C. Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh là những mẫu mực trên phương diện này.

Ba là, tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận nhằm không ngừng lý luận hóa thực tiễn gắn chặt với thực tiễn hóa lý luận. Không làm như vậy thì không thể có bất cứ sự phát triển nào của công tác lý luận nói chung, lý luận về văn nghệ nói riêng, cũng như không thể nói tới bất cứ một sức sống nào của bản thân lý luận văn nghệ của chúng ta. Nói cách khác, nếu làm khác đi là vô hình trung làm “đông cứng”, làm “khô héo”, làm “xấu” đi lý luận cũng như tự “đóng cửa” hoặc “chặt cụt” con đường phát triển tự nhiên của chính công tác lý luận văn nghệ của chúng ta.

Muốn vậy, cần tăng cường đánh giá những thành tựu và hạn chế của lý luận văn nghệ mác-xít trên thế giới và trong nước trong thời gian qua để phát huy mặt tốt và khắc phục mặt yếu. Điều này rất quan trọng, bởi vì nếu chúng ta định vị lý luận mác-xít là lý luận cơ bản, nền tảng, có vai trò chỉ đạo, nếu những hạn chế của nó không được chỉ ra thì chính những hạn chế, sai lầm đó sẽ phát huy vai trò chỉ đạo và gây khó khăn cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cần thận trọng nhưng tỉnh táo để nhìn nhận lại di sản lý luận, nói theo lời của C. Mác “hoàn toàn tẩy rửa được hết mọi mê tín đối với quá khứ” và để không trở thành “những thầy tu phi triết học” như C. Mác từng gọi một cách chế nhạo khi đả kích bài xã luận một tờ báo vùng Ranh ở nước Đức đương thời.

Mạnh dạn tiếp cận lý luận tiến bộ hiện có trên thế giới, đặc biệt là lý luận văn nghệ phương Tây, khuyến khích vận dụng phù hợp các dòng lý luận tiến bộ trong thời kỳ mới trên tinh thần đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà, đồng thời giữ vững nền tảng mỹ học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực tiễn của đất nước, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Khắc phục thái độ kỳ thị đối với lý luận văn nghệ nước ngoài, tiếp thu hạt nhân giá trị của các trường phái lý luận. Một nền lý luận trì trệ là nền lý luận không đem lại quan niệm nào mới cho người ta suy nghĩ, không vạch được phương hướng cho tư duy và sáng tạo nghệ thuật.

Trong tiến trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận nhằm lý luận hóa thực tiễn gắn chặt với thực tiễn hóa lý luận, cần đặc biệt kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận cơ bản với nghiên cứu lý luận ứng dụng và nghiên cứu lý luận triển khai; lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm chứng các chế định - “con đẻ” trực tiếp của công tác nghiên cứu lý luận triển khai, hiện thân của công tác nghiên cứu lý luận ứng dụng và mục tiêu của công tác nghiên cứu lý luận cơ bản. Đến lượt chúng, các mặt nghiên cứu lý luận này phải lấy tính hiệu quả thực tiễn làm thước đo giá trị đích thực, làm mục đích hướng tới của mình và từ đó, tự hoàn thiện mình không ngừng. Đó là biện chứng phát triển của công tác lý luận văn nghệ và sức sống của lý luận văn nghệ của chúng ta.

Bốn là, xây dựng đội ngũ những nhà lý luận văn nghệ kiên định lập trường chính trị gắn chặt với việc kiến tạo một đội ngũ những nhà khoa học chuyên ngành và liên ngành nhằm tạo dựng một đội ngũ những nhà lý luận xuất sắc.

Thời đại mới và yêu cầu phát triển mới của đất nước đặt ra điều đó. Đó chính là trọng trách của công tác lý luận. Việc xây dựng một đội ngũ những nhà lý luận văn nghệ giàu tâm huyết, trí tuệ là nhu cầu phát triển tất yếu, một bảo đảm cơ bản có tính quyết định sự phát triển mạnh mẽ, lâu dài của công tác nghiên cứu lý luận văn nghệ và tính thiết thực, khả thi của lý luận văn nghệ. Vấn đề đặt ra một cách cấp bách là tiếp tục xây dựng cơ chế nhằm thu hút, tập hợp đông đảo những nhà khoa học hàng đầu, cả trong và ngoài nước.

Năm là, xây dựng một cơ chế nghiên cứu khoa học lý luận văn nghệ một cách cơ bản, thực sự dân chủ và minh bạch.

Đây là công việc rất cần kíp. Cơ chế hoạt động khoa học phù hợp và hữu hiệu là một trong những yếu tố rất quan trọng để xây dựng một nền lý luận chính trị tiên phong. Không ngừng mở rộng dân chủ và minh bạch hóa cao độ trong nghiên cứu vừa là yêu cầu, vừa là động lực phát triển của công tác nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu lý luận văn nghệ nói riêng. Tôn trọng ý kiến cá nhân, không độc quyền chân lý, không trù úm quy kết, không a dua, hữu khuynh, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác, chống thói cơ hội, thực dụng. Đó cũng là phương châm hành động của mỗi con người, mỗi tổ chức nghiên cứu khoa học, của nghiên cứu lý luận văn nghệ nói riêng.

Vì vậy, cần xác lập một cơ chế hoạt động bảo đảm để mỗi nhà lý luận văn nghệ vừa là một cá thể hoạt động độc lập, sáng tạo không ngừng, đầy bản lĩnh trong chỉnh thể đội ngũ những nhà khoa học, vừa là một nhân cách luôn được tôn trọng và biết tôn trọng đồng nghiệp trong tổ chức nghiên cứu khoa học, vừa là một nhà văn hóa có tầm nhìn xa, cương quyết và mềm dẻo. Phải rất coi trọng tính công bằng, khách quan. Đây là động lực to lớn đối với những người làm công tác nghiên cứu lý luận. Bởi bản chất của khoa học nói chung là sự minh bạch và khách quan. Nó đối lập với mọi sự giảo trá, ngụy tạo, lắt léo. Nó không dung thứ thói a dua, chủ quan, duy ý chí, thực dụng và cơ hội. Nó càng đối lập với thói cường quyền. Do vậy, nếu không xác lập một thái độ nhận thức, đánh giá công bằng, khách quan và kịp thời trong công tác nghiên cứu lý luận văn nghệ, thì chúng ta không thể đưa nền lý luận văn nghệ tiến lên đúng hướng được.

Đây chính là con đường mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin đã đi và chúng ta tiếp tục đi trên con đường của các ông một cách kiên định vì sự phát triển của sự nghiệp văn hóa, văn nghệ./.

-------------------------------------------------------------

(1) C. Mác, Ph. Ăng-ghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, t. 1, tr. 14

(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 13, tr. 15

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t. 8, tr. 496

Nguyễn Thế KỷỦy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương

Video