Thứ Bảy, 20/1/2018
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới: Gắn kết văn hóa với chính trị và kinh tế
2/1/2018 20:1' Gửi bài này In bài này
Ảnh minh họa - Nguồn: lyluanchinhtri.vn

1- Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy những biến động to lớn, diễn ra vô cùng nhanh chóng và đầy bất ngờ theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực. Bên cạnh những sự đồng thuận rộng rãi của cộng đồng quốc tế về nhiều vấn đề là những mâu thuẫn và xung đột rất khó lường trên nhiều mặt khác nhau từ kinh tế đến chính trị cũng như quan hệ giữa các nước lớn với nhau, giữa các nước lớn và các nước nhỏ; thậm chí có cả những mâu thuẫn giữa các tộc người, giữa các tôn giáo trong cùng một cộng đồng dân tộc. Những biến động mang tính toàn cầu và những mâu thuẫn cả lớn và nhỏ đó đòi hỏi tất cả các quốc gia nằm trong vòng xoáy của chúng, nhất là các nước đang phát triển như nước ta, phải có cách ứng xử vừa rất linh hoạt, mềm dẻo để thích nghi và hội nhập, vừa rất bản lĩnhcó nguyên tắc để không tự đánh mất mình về mọi phương diện, đồng thời cũng không bị lạc lõng, không bị lạc điệu và nhất là không bị lạc hậu, không bị tụt hậu xa hơn nữa so với các nước khác trong cộng đồng thế giới.

Quốc gia nào đạt được tất cả những mục tiêu đó cũng đồng nghĩa với việc quốc gia ấy sẽ có được sự phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và bền vững hơn. Trong sự phát triển này, văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi vì cả chính trị lẫn kinh tế đều không thể thiếu văn hóa và đều đòi hỏi phải có văn hóa. Nói cách khác, trong điều kiện thế giới hiện nay và trong thời kỳ mới của đất nước ta, văn hóa phải thấm sâu vào cả chính trị lẫn kinh tế. Phải gắn kết thật chặt chẽ văn hóa với chính trị và với kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn bao giờ hết, ngày nay không thể làm chính trị một cách thông minh để mong có được hiệu quả và thành công, cũng như không thể phát triển kinh tế đất nước nhanh và thật sự bền vững nếu thiếu văn hóa soi sáng và dẫn đường, nghĩa là “văn hóa... không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(1).

Văn hóa không phải là thứ tồn tại bên ngoài xã hội loài người, càng không phải là thứ vốn có sẵn trong tự nhiên ngay từ thuở mới khai thiên, lập địa. Đồng thời, văn hóa cũng không phải là cái bất biến trong thời gian; trái lại, văn hóa luôn luôn được phát triển, bổ sung, được làm giàu thêm, và cùng với thời gian, được các thế hệ sau kế thừa có chọn lọc, thậm chí bị vượt bỏ ở những mặt nhất định nào đó.

Văn hóa cũng không phải là thứ mà khi mỗi con người mới được sinh ra đã có ngay trong bản thân mình. Theo nghĩa rộng nhất, “văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(2). Như vậy, văn hóa là một trong những nét đặc trưng tiêu biểu, hay là thuộc tính đặc trưng cơ bản nhất của loài người và chỉ có ở con người. Điều đó có nghĩa là văn hóa vừa mang tính người, vừa mang tính xã hội và phản ánh đậm nét trình độ phát triển mọi mặt của một xã hội, của một cộng đồng người và của một dân tộc. Trong một quốc gia dân tộc cũng có thể tồn tại các dòng văn hóa khác nhau, song vẫn có sự thống nhất trong đa dạng. Chính vì vậy mà bên cạnh việc thừa nhận những điểm chung cũng cần thừa nhận những sắc thái riêng của văn hóa các tộc người trong một cộng đồng dân tộc và của các dân tộc khác.

Xã hội càng phát triển ở trình độ cao thì trình độ văn hóa của xã hội nhìn chung cũng càng cao, hoặc cũng có thể nói, trình độ văn hóa cao vừa là điều kiện, vừa là động lực, vừa là kết quả của sự phát triển của xã hội. Nếu coi toàn bộ những “sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng”(3) là văn hóa thì văn hóa không những không tách rời cuộc sống thường nhật của con người, mà còn thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của kiến trúc thượng tầng.

Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, xét cả trên bình diện quốc gia lẫn khu vực và quốc tế, hơn bao giờ hết, văn hóa ngày càng gắn bó hơn, quyện chặt hơn với chính trị và kinh tế.

2- Nói đến chính trị là nói đến những hoạt động liên quan đến mối quan hệ giữa các giai tầng, các giai cấp và các tộc người trong một quốc gia. Đặc biệt, khi nói đến chính trị thì cần phải nhấn mạnh vai trò của việc giành lấy chính quyền, giữ được chính quyền, củng cố và xây dựng chính quyền; đến việc sử dụng quyền lực nhà nước, huy động sức mạnh và sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội vào các công việc của đất nước; xác định các nhiệm vụ và nội dung hoạt động cụ thể của nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể nhất định cũng như xuyên suốt trong nhiều năm. Vì vậy, nói đến một nền chính trị lành mạnh, tiến bộ là nói đến một nền chính trị vì dân, vì nước, vì sự phát triển không ngừng và sự trường tồn của dân tộc và của đất nước.

Nói đến nền chính trị hiện đại không thể không đề cập đến hai trụ cột rất quan trọng là quyền lãnh đạo, quyền cầm quyền của đảng chính trị và hiệu lực quản lý của nhà nước để thực hiện đường lối của đảng cầm quyền. Với một nhà nước pháp quyền hiện đại khi mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân thì vai trò của văn hóa và trình độ văn hóa, nhất là văn hóa pháp luật, văn hóa quản lý, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử của chính quyền với người dân càng có vai trò quan trọng.

Ngay trong những năm Chiến tranh lạnh khi trên thế giới còn tồn tại các hệ thống đối lập trước đây, chứ chưa nói trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, không một quốc gia nào có thể đứng đơn độc, đứng một mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng thế giới hoặc không tiến hành giao thiệp, không trao đổi, buôn bán với các nước khác, vì thế chính trị còn là mối quan hệ giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

Một khi đã thừa nhận chính trị liên quan đến mối quan hệ giữa các giai tầng, các giai cấp và các tộc người trong cùng một quốc gia thì trước hết cần có cách giải quyết sao cho thật hài hòa và công bằng mối quan hệ cơ bản của xã hội, đó là các quan hệ lợi ích giữa họ với nhau. Nhìn vào lịch sử nhân loại ta thấy, ngay từ thời cổ đại, khi đồng ý với tư tưởng của Pla-tôn (427 - 347 TCN) trong tác phẩm Cộng hòa, theo đó “công bình chính trực giá trị gấp bội vàng bạc”(4), nhà triết học thời cổ đại M. Xi-xê-rôn (106 - 43 TCN) trong tác phẩm Bàn về chính quyền đã nhấn mạnh rằng, “công lý vốn là thứ ngàn lần quý hơn tất cả vàng bạc trên thế gian này”, cho nên “không có lợi ích hay phần thưởng nào đạt được nhờ sự bất công”(5). Sự bất công, sự bất chính ở thượng tầng lãnh đạo của đất nước thường tạo ra mâu thuẫn, sự phân ly, thậm chí là sự ly tán lòng người trong xã hội; trong khi đó, ngược lại, sự chính trực và sự công bằng sẽ dẫn đến sự hài hòa và sự đồng thuận trong xã hội như một động lực của sự phát triển. Không thể gọi là một nền chính trị tiến bộ, khôn ngoan, hợp lòng dân nếu không tạo được sự công bằng, sự đồng thuận rộng rãi và chân thành trong toàn thể xã hội để mọi người toàn tâm toàn ý bảo vệ nó và chiến đấu, hy sinh vì nó.

Vì vậy, muốn tạo được sự hài hòa về lợi ích trong toàn xã hội thì cần có chính sách đủ thông minh để không ai trong số họ phải chịu thiệt thòi, để không ai cảm thấy mình bị đối xử không công bằng. Một chế độ chính trị nếu không tạo được sự bình đẳng và sự công bằng một cách thực chất về tất cả các mặt, nhất là nếu để diễn ra tình trạng phân cực giàu nghèo quá mức, mất kiểm soát thì nguy cơ bất ổn xã hội là điều rất dễ xảy ra. Một chính sách hài hòa về lợi ích như vậy đòi hỏi không chỉ tính khoa học cao mà còn cả tính nhân văn và tính văn hóa rất cao. Nghĩa là, mọi chính sách của một thể chế chính trị tiến bộ trong thời đại hiện nay đều phải nhằm mục tiêu cao nhất là phục vụ con người với tính cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể thật sự và chân chính của xã hội.

Nói cách khác, trong thế giới đương đại, văn hóa cần và phải thấm sâu vào chính trị ngay từ bước đầu hoạch định đường lối lâu dài cùng các chính sách cụ thể cũng như trong suốt cả chặng đường hiện thực hóa các chính sách đó.

Muốn tạo được sự công bằng xã hội một cách thực chất và tránh được sự phân cực giàu nghèo quá mức để không xảy ra sự bất ổn xã hội thì văn hóa cao nhất trong chính trị đương đại là phải coi con người thuộc tất cả các giai tầng và giai cấp trong xã hội vừa là chủ thể, vừa là khách thể của thể chế chính trị để vừa khơi dậy được sức mạnh tiềm ẩn của họ, vừa phục vụ họ một cách tốt nhất. Đó chính là một nền chính trị và thể chế chính trị thông minh, tất cả đều do con người và vì con người. Đó cũng là chỗ dựa quan trọng hàng đầu nhằm tạo nên sự bền vững lâu dài của chế độ. Khi mỗi con người cảm thấy mình là một phần hữu cơ của dân tộc, của cộng đồng, thật sự được tôn trọng, được hưởng sự tự do, sự công bằng và bình đẳng thì tất cả họ sẽ là những người cực kỳ trung thành bảo vệ chế độ, ra sức xây dựng đất nước và đó chính là đất nước, “là xã hội duy nhất [mà] người có tinh thần tự do thích sống” và cống hiến như Pla-tôn đã từng nói đến(6).

Một điểm rất quan trọng khác trong văn hóa chính trị đương đại, như trên đã nói, thể hiện ở quyền lãnh đạo, quyền cầm quyền của đảng chính trị và hiệu lực quản lý của nhà nước.

Trong điều kiện thế giới hiện nay, đối với bất cứ chế độ xã hội thuộc thể chế chính trị nào, dù chế độ đó là do một đảng duy nhất cầm quyền hoặc có nhiều đảng cùng đua tranh để giành quyền lãnh đạo, để cầm quyền một cách vững chắc thì khi đã giành được quyền lãnh đạo rồi, dù là theo cách bầu cử tự do nào, cũng đều không thể thiếu một cơ quan quản lý nhà nước trong sạch và hiệu quả khi thực thi đường lối của đảng cầm quyền. Cơ quan quản lý và điều hành công việc nhà nước ấy chắc chắn phải được hình thành từ những người ưu tú đại diện cho đảng cầm quyền và cho cả xã hội. Họ phải là những người thực sự đã có năng lực thực sự về các mặt, như văn hóa quản lý điều hành, trình độ văn hóa pháp luật vững vàng, trình độ văn hóa tổ chức cao để hoàn thành nghĩa vụ và trách nhiệm nặng nề trước đảng của họ và trước đất nước chứ không phải sau khi được giao trách nhiệm và nắm cương vị nào đó rồi mới gửi đi đào tạo ở các cơ sở chuyên ngành. Đây là điều chúng ta cần học hỏi, rút kinh nghiệm và thực hiện để không lãng phí thời gian, tiền của và mất niềm tin của nhân dân.

Tại những nước có trình độ dân chủ và văn minh cao nếu người nào đó sau khi được bầu hoặc được bổ nhiệm vào một cương vị nhất định mà không đáp ứng được yêu cầu công việc thì người đó sẽ tự nguyện xin từ chức hoặc là sẽ bị buộc phải từ chức hay sẽ bị cách chức. Có thể nói, văn hóa từ chức cũng là một nét văn hóa nổi bật và khá phổ biến của nền chính trị hiện đại thế giới. Những người làm chính trị có văn hóa cần hiểu rằng, việc họ được giao đảm nhiệm một chức trách nào đó chính là để gánh vác công việc chung của đất nước, chứ không phải để thu lợi, để làm giàu bất chính, cho nên khi cảm thấy bản thân mình không đủ năng lực thực thi, hoặc mắc những thiếu sót làm mất niềm tin của dân chúng,... thì việc họ xin không tiếp tục chức trách đó nữa là chuyện bình thường và rất đáng trân trọng. Ngược lại, một khi có ai đó bị cách chức, bị miễn nhiệm do năng lực yếu kém, do vi phạm pháp luật hoặc do mất tín nhiệm, do mất lòng tin của dân chúng thì đó chính là sự nghiêm minh của pháp luật, sự trong sạch và sức mạnh thật sự của bộ máy nhà nước.

Trong một nhà nước pháp quyền và có truyền thống dân chủ thì việc thay thế người thiếu năng lực hoặc có tỳ vết gì đó đều được coi là một chuyện rất bình thường nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả, uy tín của cơ quan quản lý nhà nước và của đảng cầm quyền, đặc biệt là để thu phục nhân tâm, để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Đó là lý do vì sao ở các nhà nước pháp quyền tiên tiến sự trì trệ ít khi kéo dài và thường thay đổi quyền lãnh đạo, quyền cầm quyền. Có thể nói, ở những nước này văn hóa từ chức cũng là một trong những động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thiết nghĩ, đã đến lúc nước ta cũng cần nâng cao trình độ này trong toàn xã hội, trước hết là trong hàng ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp.

Những điều trình bày trên đây cho thấy, trong điều kiện thế giới hiện nay, cũng như từ thực tiễn đất nước ta, văn hóa vô cùng cần thiết cho chính trị; chính trị không thể tách rời văn hóa và không thể thiếu văn hóa; chính trị có văn hóa sẽ là động lực thúc đẩy việc xây dựng một xã hội ổn định, tự do, công bằng, nhân văn và phát triển bền vững. Sức mạnh của chế độ, của chính quyền, của đảng chính trị cầm quyền chính là được tạo nên và dựa trên các cơ sở quan trọng này.

3- Để phát triển đất nước ta thì bên cạnh một nền chính trị lành mạnh, một xã hội ổn định, tiến bộ, còn cần phải tập trung đầu tư phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, ngày nay không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá, nhất là không thể vì các chỉ số tăng trưởng kinh tế mà hy sinh môi trường sống. Nói cách khác, trước hết phải gắn kết sự phát triển kinh tế với văn hóa sinh thái. Cần nhớ lại chỉ dẫn của C. Mác cách đây hơn một thế kỷ rằng, “nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức... thì sẽ để lại sau nó đất hoang”(7).

Mở rộng chỉ dẫn đó của C. Mác cần phải biết rằng, dù là phát triển sản xuất nông nghiệp hay phát triển công nghiệp đều cần có sự hiểu biết sâu sắc mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên; phải thấu hiểu việc con người và xã hội loài người không thể tồn tại nếu thiếu sự trợ giúp của tự nhiên; đặc biệt, con người “hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên”(8). Điều đó có nghĩa là, muốn phát triển kinh tế một cách hiệu quả và không phải trả giá về môi trường thì không thể thiếu văn hóa, nhất là kiến thức văn hóa sinh thái.

Phải thật sự khách quan và thẳng thắn để thừa nhận rằng, trong các kế hoạch phát triển kinh tế, nhất là phát triển công nghiệp, chúng ta đã thiếu tầm nhìn xa, thiếu kiến thức văn hóa sinh thái. Hơn 40 năm trước đây chúng tôi đã đưa ra nhận định mang tính cảnh báo rằng, “khi xây dựng nhà máy, xí nghiệp chúng ta chưa chú ý đến việc bảo vệ môi trường, còn nặng tính chất tự phát, nặng về kinh tế đơn thuần chứ chưa có quy hoạch sinh thái. Trong nhận thức, ta chưa thấy rằng môi trường sống và thiên nhiên của chúng ta không chỉ thuộc về thế hệ hôm nay mà còn thuộc về nhiều thế hệ mai sau”(9). Hậu quả của tình trạng đó giờ đây đã rất rõ ràng và chắc chắn sẽ còn nặng nề hơn trong tương lai không xa nếu không kịp thời có các giải pháp hiệu quả. Đang xảy ra tình trạng thế hệ hôm nay đang lãng phí, đang vay mượn và tiêu dùng quá mức được phép quá nhiều các nguồn tài nguyên đáng lẽ phải để lại cho các thế hệ mai sau. Tầm nhìn ngắn hạn và chỉ nghĩ đến việc giải quyết nhu cầu trước mắt nên ngay cả hiện nay đã và vẫn tiếp tục cho xây dựng hàng loạt nhà máy điện than với công nghệ lạc hậu gần các khu dân cư, các vựa lúa lớn hiện đang gây ô nhiễm thật sự kinh hoàng ở những địa phương này. Trong tương lai không xa hậu quả ấy sẽ còn trầm trọng hơn nhiều và lan xa hơn nhiều.

Chính vì vậy, tiếp nhận đầu tư, tiến hành công nghiệp hóa nhất thiết phải theo hướng hiện đại; không được tách công nghiệp hóa ra khỏi hiện đại hóa. Dù là công nghiệp hóa công nghiệp hay công nghiệp hóa nông nghiệp cũng đều phải theo hướng hiện đại, trên cơ sở sử dụng công nghệ hiện đại chứ đừng vì giá rẻ hay vì được vay vốn với lãi suất thấp. Hãy cẩn trọng với tình trạng “tham bát bỏ mâm” như các dự án kéo dài nhiều năm và đội vốn lên rất lớn so với khi duyệt thầu đang chình ình trước mắt bàn dân thiên hạ.

Trình độ văn hóa sinh thái thấp còn thể hiện ở việc cho phép xây dựng quá nhiều công trình thủy điện nhỏ tại lõi các khu rừng cấm, rừng phòng hộ ở nhiều nơi. Người ta đã lợi dụng danh nghĩa xây thủy điện mà thực chất là để khai thác gỗ trong rừng phòng hộ một cách hợp pháp. Cùng với đó, chủ trương cho chuyển đổi mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng giữ nước, thậm chí cả rừng có giá trị quốc phòng, để làm kinh tế,... cũng mở ra cơ hội cho việc phá rừng một cách hợp pháp. Còn nhiều điều khác có thể minh chứng cho trình độ văn hóa sinh thái thấp kém trong việc hoạch định một số chính sách phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua.

Văn hóa cũng chưa thấm sâu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp chưa được coi trọng, chưa được coi là điều kiện cốt tử cho sự phát triển bền vững của đất nước. Càng đáng ngại hơn là trình độ văn hóa doanh nghiệp và doanh nhân của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Kinh tế đất nước, và nói chung cả những mặt khác của đất nước, sẽ không thể nào phát triển bền vững nếu trình độ văn hóa kinh doanh không được kịp thời nâng lên, nếu văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp không được coi trọng đúng mức.

Dễ dàng nhận ra, hiện nay, bên cạnh các nhà sản xuất và các doanh nhân chân chính, có đạo đức và có văn hóa thì tình trạng sản xuất, kinh doanh chộp giật, thiếu đạo đức, phản văn hóa vẫn đang tràn lan dường như ở tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người.

Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, sở dĩ tình trạng sản xuất và kinh doanh thiếu văn hóa này có thể diễn ra trong một thời gian dài như vậy, ngoài lỗi của các doanh nhân, còn là do lỗi của các cơ quan công quyền, của các cơ quan thực thi pháp luật và do cả việc thiếu luật, do luật pháp của chúng ta không theo kịp hiện thực cuộc sống. Cũng có thể nói, nạn sản xuất, kinh doanh phản văn hóa có thể tồn tại công khai được như hiện nay còn do nạn tham nhũng chưa được ngăn chặn có hiệu quả; do lợi ích nhóm tiêu cực của không ít những kẻ thoái hóa, biến chất mà pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật chưa nắm bắt hết được. Đây chính là bằng chứng nổi bật về sự gắn bó chặt chẽ giữa công tác quản lý nhà nước các cấp với hoạt động kinh tế, giữa chính trị và kinh tế với văn hóa.

Nói tóm lại, trong thời kỳ mới, văn hóa phải thôi thúc con người tự nhận thức được trách nhiệm của mình và thực thi trách nhiệm đó một cách tốt nhất trong mọi lĩnh vực hoạt động. Văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với chính trị và kinh tế; phải “thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế”, đồng thời văn hóa phải góp phần “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên”(10) (tức là những người đang nắm quyền lãnh đạo, quyền cầm quyền và quyền quản lý nhà nước) để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước./.

-------------------------------------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 368 - 369
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 431
(4) Pla-tôn: Cộng hòa. Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2013, tr. 93
(5) M. Xi-xê-rôn: Bàn về chính quyền, Lương Đăng Vĩnh Đức dịch. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2017, tr. 338, 246
(6) Pla-tôn: Cộng hòa, Sđd, tr. 589
(7) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, t. 32, tr. 80
(8) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 20, tr. 655
(9) Nguyễn Trọng Chuẩn: Chủ động đề phòng nạn ô nhiễm môi trường trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tạp chí Triết học, số 2-1977, tr. 80
(10) Xem: Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước



Nguyễn Trọng ChuẩnGS, TS, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Video