Thứ Sáu, 20/10/2017
Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
13/3/2017 22:11' Gửi bài này In bài này
Quang cảnh Hội nghị - Ảnh: dangcongsan.vn

Sự bất cập của cơ chế, chính sách trong mối quan hệ với tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Cơ chế được hiểu là cách thức, phương pháp, công cụ được sử dụng để tác động, điều khiển, kiểm soát đối tượng lãnh đạo - quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Còn chính sách là những chủ trương, biện pháp và hành động cụ thể được đảng cầm quyền hoặc nhà nước sử dụng trong thời gian nhất định để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Mối quan hệ giữa cơ chế với chính sách bắt nguồn từ tính “dây chuyền” của thể chế và nguyên lý “truyền lực” của bộ máy. Thể chế tạo khung khổ nguyên tắc để hình thành chính sách, còn chính sách giữ vai trò tác động trực tiếp cho sự vận hành của cơ chế thông qua các công cụ nhất định. Cơ chế, chính sách là sản phẩm sáng tạo của chủ thể lãnh đạo - quản lý; nếu phù hợp quy luật khách quan thì tạo động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, tối đa hóa lợi ích công; còn nếu không phù hợp thì sẽ là lực cản cho phát triển, thậm chí bị biến thành công cụ hợp pháp của nhóm lợi ích nhất định trong xã hội nhằm giành lấy các nguồn lực công cho riêng mình.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua có một nguyên nhân bắt nguồn từ sự bất cập của cơ chế, chính sách. Qua hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà mấu chốt chính là đổi mới cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, việc ban hành và thực thi cơ chế, chính sách vẫn còn bất cập, tạo môi trường cho phát sinh tiêu cực và những diễn biến phức tạp trong đời sống xã hội.

Một là, tàn dư của cơ chế “bao cấp” và quan hệ “xin - cho” vẫn tồn tại trong nhiều “ngõ ngách” của đời sống xã hội và được dịp hồi sinh dưới nhiều hình thức khác nhau khi có điều kiện, nhất là khi nhịp độ đổi mới chùng xuống hoặc thiếu các công cụ kiểm soát quyền lực phù hợp, mặc dù Đảng và Nhà nước thường xuyên nêu quyết tâm phải xóa bỏ cơ chế “xin - cho”. Cơ chế này tạo kẽ hở cho một bộ phận cán bộ, công chức được giao chức năng thay mặt Nhà nước quản lý đất đai, cấp phát ngân sách, cấp duyệt dự án đầu tư, khai thác tài nguyên, khoáng sản,... đã lợi dụng quyền lực để trục lợi. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra các biểu hiện của nó là “... đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc”(1). Cơ chế “xin - cho” để lại lỗ hổng lớn trong phân bổ nguồn lực công dễ bị lợi dụng để phục vụ cho “lợi ích nhóm”, gây nên tình trạng bất bình đẳng trong xã hội, đẩy thiệt hại về phía Nhà nước và người dân. Nó không ràng buộc trách nhiệm của người “cho”, còn phía “xin” thì “mạnh ai nấy chạy”, nên nguồn lực đầu tư không tính đến hiệu quả, dẫn tới đầu tư phân tán, lãng phí, thất thoát. Nó tạo môi trường cho những cán bộ, công chức kém phẩm chất tham nhũng, tư túng - những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hiện nay, một trong những lĩnh vực được Nhà nước “ưu đãi”, “bao cấp” là các đơn vị sự nghiệp công với số lượng lớn, tồn tại ở nhiều cấp độ và dưới các hình thức khác nhau. Đó là bao cấp về tiền lương, bao cấp về giá các loại dịch vụ, bao cấp về biên chế và nhân sự, bao cấp về đầu tư xây dựng cơ bản, bao cấp phương án tổ chức quản lý, bao cấp về điều kiện tổ chức cung ứng hàng hóa và dịch vụ... Sự bao cấp nhiều mặt nêu trên là bất cập nhất, chẳng những đẩy các đơn vị sự nghiệp công tiếp tục ỷ lại, thiếu động lực đổi mới và sáng tạo, mà còn là một trong những môi trường nuôi dưỡng tiêu cực, lãng phí và các biểu hiện suy thoái khác. Mặt khác, do phải dồn nhiều khoản tài chính ngân sách để “bao cấp” cho các đơn vị sự nghiệp công nên đã góp phần làm Nhà nước thiếu điều kiện tập trung nguồn lực để đầu tư cho phát triển, làm hạn chế đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng bảo đảm an sinh xã hội.

Hai là, cơ chế quản lý nhà nước chậm đổi mới, chức năng cung ứng dịch vụ công và chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh chưa tách bạch rõ ràng với chức năng quản lý nhà nước; Nhà nước là cơ quan quản lý, đồng thời lại là chủ thể cung ứng dịch vụ công. Về nguyên tắc, vai trò chính của Nhà nước là hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý và kiểm tra, giám sát. Vì vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công nên các cơ quan quản lý nhà nước thường tập trung nhiều hơn cho cung ứng dịch vụ công mà thiếu tập trung cho chức năng quản lý nhà nước. Hiện nay, Nhà nước vừa là cơ quan hoạch định chính sách, vừa là cơ quan điều tiết, quản lý thị trường, vừa là chủ thể quyết định đầu tư, kinh doanh phần vốn Nhà nước đóng vai trò sở hữu. Do Nhà nước đồng thời đóng cả hai vai theo kiểu “2 trong 1” nên việc cân đối và đầu tư nguồn lực cho từng chức năng bị san sẻ. Sự mất cân đối, chồng chéo, “vừa đá bóng, vừa thổi còi” như vậy là lỗ hổng lớn, là môi trường thuận lợi làm nảy sinh những bất cập, như tình trạng cửa quyền, thủ tục hành chính vòng vèo, rườm rà, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp khi tiếp cận dịch vụ công.

Do phải phân tán nguồn lực cho chức năng cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất, kinh doanh nên việc triển khai chức năng quản lý nhà nước lại bị hạn chế, thậm chí bị buông lỏng, thực hiện không có hiệu quả - mặc dù đây là chức năng quan trọng của Nhà nước. Việc cung ứng dịch vụ công và quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh được thực hiện bởi chính cơ quan ban hành chính sách nên thiếu minh bạch và khó kiểm soát, gây bất lợi cho người dân và doanh nghiệp không có quan hệ thân quen với bộ máy công quyền. Đây là rào cản cho môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp bởi phát sinh các “chi phí trung gian”, từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, gây tổn thương tình cảm và niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền.

Ba là, cơ chế kiểm soát thực thi quyền lực không rõ ràng, nhất là giữa thẩm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu; việc xác định trách nhiệm cá nhân rất khó khăn. Thực tế cho thấy, quyền mà Nhà nước giao cho một số cá nhân rất lớn nhưng chưa có các chế tài để kiểm soát, giám sát quyền lực một cách phù hợp; chưa có biện pháp để truy cứu trách nhiệm một cách tương ứng; chưa có “lồng” cơ chế để “nhốt” quyền lực. Trong khi đó trách nhiệm cá nhân lại rất mờ nhạt nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Quy chế kiểm soát quyền lực còn nhiều bất cập, chủ thể chịu trách nhiệm kiểm soát thực thi quyền lực chưa rõ ràng, còn chồng chéo giữa một số cơ quan chức năng; việc kiểm soát giữa tổ chức với cá nhân, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa tự kiểm soát bên trong và kiểm soát từ bên ngoài, giữa kiểm soát từ trên xuống và kiểm soát từ dưới lên thiếu sự đồng bộ và chưa thật sự hiệu quả. Đùn đẩy trách nhiệm sai lầm về phía tập thể là hiện tượng khá phổ biến. Nhiều vụ việc làm thất thoát tài sản công, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng khó truy cứu được trách nhiệm cá nhân.

Bốn là, hoạch định và tổ chức thực thi chính sách còn nhiều bất cập, tạo kẽ hở cho nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, nhất là lợi ích nhóm. Hoạch định một số chính sách chưa bám sát tình hình, còn hạn chế vai trò sự tham gia tích cực của các chủ thể được điều chỉnh. Có không ít chính sách chưa sát với thực tế, khó đi vào cuộc sống, không tạo được động lực mới cho phát triển. Quy trình xây dựng chính sách, từ chuẩn bị các yếu tố “đầu vào” một cách chuẩn xác, cân bằng quyền lợi chính đáng của các thành phần dân cư trong xã hội, thảo luận dân chủ và phản biện xã hội đối với chính sách..., đến xác định “đầu ra”với địa chỉ rõ ràng và trách nhiệm cụ thể còn bất cập, thiếu chuyên nghiệp, có lúc, có nơi còn bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”.

“Lợi ích nhóm” trong hoạch định chính sách là một biểu hiện rất đáng lo ngại, diễn ra tinh vi, khó nhận diện. Bản chất của nó là sự cấu kết giữa những người hoạch định chính sách với các nhóm thân hữu đang vận hành trên thị trường để mưu cầu lợi ích riêng. Đặc biệt là, chính sách thường bị “bẻ lái”, “uốn cong” ở các khâu cụ thể hóa thành quy định cá biệt, hướng dẫn, giấy phép con..., khi huy động và phân bổ nguồn lực. Việc phản biện chính sách chưa chuyên nghiệp nên ít tranh thủ được ý kiến của các nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề và nhân dân để tối đa hóa lợi ích công ở ngay từ khâu dự thảo chính sách.

Năm là, cơ chế tạo sự cạnh tranh trong công tác cán bộ còn thiếu; chính sách tiền lương, nhà ở, khen thưởng,... chưa tạo được động lực để thu hút, trọng dụng người tài, người có tâm huyết và đào thải những người yếu kém về năng lực, phẩm chất, đạo đức. Công tác cán bộ nhiều năm qua vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém. Đội ngũ cán bộ trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước vừa thừa lại vừa thiếu; thừa những cán bộ không đủ trình độ, năng lực; thiếu những chuyên gia giỏi, những người có khả năng tham mưu, đề xuất và trực tiếp giải quyết các công việc cụ thể. Tình trạng này là do thiếu các cơ chế để tạo động lực phấn đấu, thiếu sự cạnh tranh, thiếu các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá cán bộ phù hợp, chưa có chính sách trọng dụng nhân tài sát với thực tế, chế độ đãi ngộ còn mang tính “cào bằng”...

Cải cách tiền lương còn lúng túng; tiền lương chưa thực sự trở thành thu nhập chính của cán bộ, công chức; đầu tư cho tiền lương chưa trở thành đầu tư cho phát triển; chưa gắn được trách nhiệm, tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức với công việc được giao. Chính sách nhà ở còn bất cập khiến cán bộ, công chức phải tìm mọi cách “cải thiện” thu nhập ngoài lương trong thực thi công vụ để có điều kiện chi trả cho các khoản phí thuê hoặc mua nhà theo giá thị trường đắt đỏ dẫn tới tiêu cực, sách nhiễu, tham nhũng.

Bất cập của cơ chế, chính sách vừa làm biến dạng bản chất của chính sách công, vừa làm méo mó quy luật kinh tế thị trường. Biến dạng của chính sách công thể hiện ở chính sách bị “uốn cong”, được “vận dụng linh hoạt” bằng những cơ chế tinh vi hướng vào các lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, tạo nên tình trạng bất cân xứng giữa các nhóm xã hội khi tiếp cận nguồn lực công. Sự méo mó của quy luật kinh tế thị trường thể hiện ở nhiều loại phí dịch vụ chưa chuyển thành giá và tính đúng, tính đủ theo giá thị trường; định giá khi cổ phần hóa chưa theo quy luật thị trường, bị chi phối bởi lợi ích nhóm, từ đó một phần tài sản nhà nước chuyển vào tay tư nhân trong quá trình cổ phần hóa; hợp tác công tư chưa minh bạch; cơ chế cạnh tranh và chống độc quyền chưa hoàn thiện. Cơ chế ấy đã tạo ra một bộ phận cán bộ, công chức không thật sự đứng về phía lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân để xử lý công việc mà vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Bất cập của cơ chế, chính sách là cơ hội cho tham nhũng, làm giàu bất chính, ức hiếp nhân dân, tạo nên tình trạng bất công ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, xa hơn nữa là sự bất công trong xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Nó làm cho nguồn lực công bị phân tán, các công trình đầu tư công bị kéo dài tiến độ, lãng phí, hiệu quả và hiệu suất đầu tư thấp, ảnh hưởng đến phát triển chung của đất nước. Có được nguồn tiền do tham nhũng, lợi dụng kẽ hở cơ chế mà không do lao động chân chính tạo ra, cũng dễ đẩy tới lối sống hưởng lạc, xa hoa, tạo nên lối sống cách biệt với nhân dân. Các hành vi ấy đều là biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nếu không bị ngăn chặn, tất yếu sẽ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đi ngược lại lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân.

Khi đánh giá nguyên nhân về phương diện cơ chế, chính sách, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: “Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời... Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác... Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức”(2).Vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái trên các mặt, trong các ngành, các cấp và trong toàn xã hội.

Nói đến chống suy thoái là nói tới các biện pháp tác động đến cả tư duy, nhận thức và các hành vi cụ thể. Các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình có tác dụng trực tiếp trong nâng cao lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống. Mặt khác, một khi cơ chế, chính sách hoàn thiện; việc thực thi quyền lực của cán bộ, công chức được kiểm soát; thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân rõ ràng... sẽ giúp cho tự phê bình và phê bình có địa chỉ cụ thể; tạo cơ sở cho nhận diện các sai phạm để xử lý đúng người, đúng việc, đúng thẩm quyền và trách nhiệm. Cơ chế, chính sách rõ ràng, minh bạch cũng tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, giúp ngăn ngừa suy thoái, biến chất cả về tư tưởng, chính trị và hành vi.

Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách góp phần quan trọng vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Xuất phát từ vai trò của cơ chế, chính sách tác động tới nhận thức và hành vi của tổ chức và cá nhân; từ sự bất cập của cơ chế, chính sách trong giai đoạn chuyển đổi mà tàn dư của cái cũ còn ảnh hưởng nặng nề và cái mới đang định hình chưa đầy đủ; từ mối quan hệ giữa đổi mới cơ chế, chính sách với thực hiện các giải pháp tổng thể; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã xác định đổi mới cơ chế, chính sách là một trong những nhóm giải pháp quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ nhất, tập trung xây dựng cơ chế, pháp luật để kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả theo nguyên tắc: quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước mắt, rà soát hệ thống các văn bản luật liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm, chế tài xử lý vi phạm của các cơ quan nhà nước và người có chức, có quyền (cả đương chức và nghỉ hưu) để kiểm soát quyền lực. Xây dựng cơ chế theo hướng tăng tính tự chủ, phân cấp, phân quyền, làm rõ trách nhiệm Trung ương và địa phương, tập thể và cá nhân, quản lý ngành và lãnh thổ, quản lý nhà nước với quản lý sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ công,... để góp phần xóa bỏ tiêu cực phát sinh từ cơ chế “xin - cho”. Bảo đảm nguyên tắc có quyền thì phải có trách nhiệm, dùng quyền thì phải chịu trách nhiệm, lạm quyền thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm.

Việc phân cấp, phân quyền giúp tăng tính chủ động và nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu các cấp nhưng cũng đồng nghĩa với khả năng xảy ra lạm quyền, lộng quyền, vượt quyền. Vì thế, việc kiểm soát quyền lực phải được đẩy mạnh, làm thường xuyên ở các cấp, các ngành, cả ở Trung ương và địa phương với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó cần huy động sự tham gia tích cực của báo chí, công luận và người dân. Kiểm soát quyền lực giúp cho quyền lực công được thực thi một cách đầy đủ, minh bạch, đúng mục tiêu, tính chất và hiệu quả, ngăn ngừa các biểu hiện tha hóa quyền lực. Trao thẩm quyền cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc quyết định tạm đình chỉ công tác đối với những cán bộ thuộc quyền khi có dấu hiệu vi phạm hoặc trì trệ, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

Không hệ thống quản lý nào không có nguy cơ mắc phải sai lầm, nhưng tính ưu việt của một hệ thống quản lý này so với hệ thống quản lý khác là ở chỗ khi sai lầm mới xuất hiện phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn, không để gây hậu quả. Kiểm soát quyền lực có vai trò phát hiện, ngăn chặn sai lầm khi còn mới ở dạng khả năng hoặc chớm nhen nhóm. Trong điều kiện hiện nay, cần giám sát, kiểm soát chặt chẽ các quy định về quyền, trách nhiệm thực thi quyền lực trên thực tế.

Việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực được thực hiện bằng: kiểm soát “dọc” và kiểm soát “ngang”; kiểm soát nội bộ và kiểm soát từ bên ngoài; kiểm soát của tổ chức đối với tổ chức và kiểm soát của tập thể đối với cá nhân; tự kiểm soát của mỗi người (bằng rèn luyện đạo đức, tự phê bình và phê bình) kết hợp với kiểm soát của tổ chức. Cơ bản là đặt mọi hoạt động của tổ chức và cá nhân trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, “nhốt” quyền lực trong “lồng” cơ chế và pháp luật; thực hiện có nền nếp và nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình; tăng cường vai trò và thẩm quyền của ủy ban kiểm tra các cấp trong kiểm tra, giám sát thực hiện Điều lệ Đảng và các quy chế, quy định của Đảng; nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, điều tra, xét xử, công tố của các cơ quan bảo vệ pháp luật; nâng cao chất lượng giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; coi trọng giám sát của dư luận và phê bình trực tiếp của nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII yêu cầu: Đối với các vụ vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cần tập trung chỉ đạo xử lý dứt điểm. Đặc biệt sớm điều tra, truy tố, xét xử các vụ án được dư luận quan tâm nhằm củng cố niềm tin của nhân dân và công lý, tạo ra khả năng răn đe, cảnh tỉnh đối với những người cố tình lợi dụng chức vụ để vi phạm pháp luật, tham nhũng. Để giải tỏa những bức xúc của dư luận xã hội và nhân dân về việc bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, các cấp ủy, tổ chức đảng phải rà soát ngay công tác cán bộ, quy trình bổ nhiệm cán bộ, nhất là trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận.

Thứ hai, rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, hạn chế môi trường cho tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, “lợi ích nhóm”. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ những lĩnh vực cần đặc biệt quan tâm và tập trung chỉ đạo quyết liệt để đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, điều hành nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng là: phân bổ, cấp phát và sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; quản lý vốn đầu tư của Nhà nước; quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản; quản lý tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế.

Để ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, cần chuyển đổi các chính sách điều tiết, phân cấp và sử dụng ngân sách từ chỗ dựa trên chỉ tiêu biên chế, dân số, trình độ phát triển, đơn vị hành chính... như hiện nay sang kết hợp với tiêu chí hiệu quả. Cấp phát ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp công chuyển từ dựa trên chỉ tiêu biên chế sang dựa vào hiệu quả và sức cạnh tranh. Xây dựng cơ chế để chuyển một bộ phận đơn vị sự nghiệp công sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp công ích, chuyển phí thành giá dịch vụ, thực hiện cổ phần hóa. Định giá trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước dựa vào giá trị cổ phiếu niêm yết công khai trên thị trường chứng khoán. Thực hiện nghiêm túc Luật Đầu tư công; tổ chức giám sát, kiểm tra nghiêm túc hoạt động đấu thầu; bảo đảm quyền bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường khi tiếp cận các dự án sử dụng tài chính công.

Đổi mới chính sách về quản lý tài chính, tài nguyên theo hướng kiểm soát chặt chẽ, công khai, minh bạch, có sự giám sát của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân. Nâng cao hiệu quả quản lý tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan... đi liền với chống tiêu cực, trốn thuế, gian lận thương mại. Đổi mới, quản lý chặt chẽ lĩnh vực khai thác tài nguyên, khoáng sản, đất đai, đặc biệt là thực hiện nghiêm việc tối thiểu hóa khai thác tài nguyên thô, tạo cơ chế minh bạch cho mọi chủ thể tham gia trên thị trường vốn, sức lao động, dịch vụ thông qua cơ chế đấu thầu công khai, minh bạch, chịu sự giám sát của các cơ quan chức năng và dư luận xã hội.

Ủy quyền cho tư nhân hoặc mở rộng hợp tác công tư bằng nhiều hình thức đa dạng, như đầu tư tư - sử dụng công, đầu tư công - quản lý tư, lãnh đạo công - quản trị tư, chi phí công - kiểm soát công - cung ứng tư... Minh bạch hóa toàn bộ cách tính toán các hạng mục, chỉ tiêu, quá trình đàm phán hợp đồng đối tác công tư; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và tư nhân; khắc phục tiêu cực trong xây dựng hợp đồng đối tác công tư nhằm tránh đẩy phần thua thiệt về phía Nhà nước để giành lấy lợi ích riêng.

Thứ ba, kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại độ ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương, nhà ở. Sắp xếp, tinh giản bộ máy, biên chế theo hướng nhất thể hóa những đầu mối trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ được phân tán ở những cơ quan khác nhau của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Ban Chấp hành Trung ương, về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Triển khai việc sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế trước mắt tập trung vào một số “điểm nghẽn” lớn, như giáo dục - đào tạo, y tế và chính quyền cấp xã (chi cho 3 đối tượng này chiếm tới gần 70% chi tiêu thường xuyên hằng năm của quốc gia) và nghiên cứu, xem xét khả năng nhất thể hóa một số đầu mối song trùng về chức năng, nhiệm vụ. Chỉ có giảm được biên chế và tinh gọn bộ máy thì mới có điều kiện mở rộng quy mô quỹ lương để phục vụ cho cải cách tiền lương. Tinh giản biên chế theo hướng gắn với xây dựng vị trí việc làm, khung năng lực, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức... để làm căn cứ xác định số lượng biên chế, yêu cầu về chất lượng cán bộ, công chức, đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp quản lý cán bộ, công chức. Trên cơ sở đó sàng lọc, có thể đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ kém năng lực và phẩm chất, thoái hóa, biến chất; tiến hành các thủ tục miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác. Điều đó sẽ góp phần khắc phục tình trạng có những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu nhưng không tìm được biện pháp xử lý. Xây dựng quy định và tiến tới hình thành văn hóa từ chức trong cán bộ lãnh đạo, quản lý trước những sai phạm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ. Xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả.

Chuyển mạnh sang tổ chức thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý một cách công khai, minh bạch để thật sự lựa chọn được người tài, xóa bỏ các lãnh địa cho “chạy chức”, “chạy biên chế”, “chạy việc”, “chạy thi cử”. Có giải pháp nhằm khỏa lấp những “lỗ hổng” trong công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ; đổi mới việc bố trí, sắp xếp những cán bộ phù hợp với năng lực, sở trường, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế để khắc phục tình trạng kén chọn, so bì, không chấp hành sự phân công của tổ chức. Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền thông qua kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc của đồng tiền, chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt để thuận lợi trong kiểm soát nguồn tiền, kiểm soát thu nhập cá nhân. Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý các dòng tài chính, các nguồn thu chi thông qua đầu tư hiện đại hóa kết cấu hạ tầng thông tin, chính quyền điện tử, đô thị thông minh, công dân điện tử.

Chuyển từ chế độ biên chế hoặc hợp đồng dài hạn sang chế độ hợp đồng có thời hạn đối với đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công nhằm tăng tính cạnh tranh giữa người lao động với nhau và nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động; thực hiện chủ trương đưa những người kém năng lực và phẩm hạnh ra khỏi bộ máy nhà nước đồng thời thu hút và trọng dụng nhân tài, khắc phục tình trạng “có vào không có ra”.

Quan tâm xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa sử dụng ngân sách nhà nước. Lâu nay, nhà ở là vấn đề khó khăn nhất đối với cán bộ, công chức dưới góc độ tài chính, còn đối với Nhà nước lại lúng túng về cơ chế, chính sách. Trước năm 1993, Nhà nước là chủ thể duy nhất “bao cấp” nhà ở cho cán bộ, công chức; còn sau đó xóa bao cấp bằng tính toán chế độ nhà ở trong tiền lương. Nhưng chính sách này luôn tụt hậu so với diễn biến chóng mặt của giá cả thị trường bất động sản khi cải cách tiền lương chưa đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy, xây dựng chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức với nhiều chủ thể tham gia là một bước tiến quan trọng để khắc phục các “điểm nghẽn” trong huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư phát triển nhà ở cho cán bộ, công chức, khắc phục cả hai khuynh hướng không phù hợp: chỉ trông chờ duy nhất vào nguồn lực của Nhà nước hoặc thả nổi vấn đề nhà ở của cán bộ, công chức và nhà ở xã hội cho thị trường. Chính sách nhà ở với nhiều chủ thể tham gia được thực hiện theo hướng: Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách; các cấp chính quyền địa phương quy hoạch đất đai, nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức; các địa phương, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tham gia định giá, phân loại, thực thi chính sách nhà ở công khai, minh bạch, công bằng; cán bộ, công chức, viên chức phải bỏ tiền ra mua hoặc thuê theo quy định của Nhà nước.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa, tách hoạt động cung ứng dịch vụ công và hoạt động quản lý sản xuất, kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức. Xã hội hóa các dịch vụ công để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước một cách có hiệu quả. Đây là một giải pháp hữu hiệu để loại trừ tình trạng tham nhũng, tiêu cực, sách nhiễu đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời rút ngắn thời gian, tối ưu hóa quy trình giải quyết các thủ tục hành chính, tiết kiệm các nguồn lực của Nhà nước. Việc tách hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước khỏi chức năng quản lý nhà nước của bộ chủ quản nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước có điều kiện tập trung vào xây dựng quy hoạch, kế hoạch, hành lang pháp lý, hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật và kiểm tra thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, hạn chế tiêu cực phát sinh từ sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tách hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công khỏi chức năng quản lý nhà nước bằng việc lập một đầu mối ở từng địa phương, khu vực chịu trách nhiệm trước người dân và doanh nghiệp về cung ứng các dịch vụ hành chính công, không chỉ tạo điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn hạn chế tình trạng cửa quyền, tham nhũng, có chủ thể chịu trách nhiệm rõ ràng đối với từng công đoạn lưu chuyển dịch vụ với quy trình kiểm soát chặt chẽ.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã yêu cầu “rà soát, thoái vốn, cổ phần hóa, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh”(3).

Thứ năm, đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên. Cải cách hành chính trong Đảng tập trung vào việc cải cách thủ tục, quy trình xây dựng và ban hành các nghị quyết, quy chế, chương trình, kế hoạch, đề án; kiện toàn tổ chức, sắp xếp, hoàn thiện bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; bổ sung, sửa đổi những quy định hành chính trong Đảng, như quy trình công tác, lề lối làm việc,... cho phù hợp với tình hình hiện nay để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, tạo sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Rà soát, bổ sung các quy định, quy chế nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; khắc phục tình trạng chồng chéo một số quy định giữa cơ quan Đảng và Nhà nước, giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, khách quan, công khai, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Quản lý chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cán bộ, đảng viên thông qua đánh giá chất lượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, khi không hoàn thành nhiệm vụ phải xử lý kịp thời; tăng thẩm quyền và nâng cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy trong quản lý đảng viên; kết hợp quản lý của tổ chức đảng nơi công tác với quản lý đảng viên nơi cư trú...

Thứ sáu, hoàn thiện quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ cấp chiến lược. Cùng với bảo vệ chính trị qua lý lịch đảng viên, cần phải chú trọng quản lý chính trị bản thân trong từng bước đi, trong suốt quá trình trưởng thành, trong từng giai đoạn và từng công việc cụ thể. Các tổ chức đảng phải nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện những dấu hiệu suy thoái để kịp thời có các biện pháp phù hợp, tránh để xảy ra tình trạng “chuyện đã rồi” vừa mất mát cán bộ vừa tổn hại đến tổ chức.

Trong mối quan hệ giữa “phòng” và “chống” các biểu hiện suy thoái thì “phòng” phải được đặt lên hàng đầu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ của các tổ chức đảng. Cần có các biện pháp, phương thức phù hợp để ngăn chặn sự chuyển hóa từ trạng thái “suy thoái” sang trạng thái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải hết sức chủ động, tiến hành từ xa, bảo vệ cả cán bộ, đảng viên ở trong nước cũng như số cán bộ, đảng viên đang công tác, học tập ở nước ngoài và ở các môi trường khác nhau. Trước mắt, rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý số sinh viên, nghiên cứu sinh, lao động đang nghiên cứu, học tập và công tác ở nước ngoài để kịp thời phát hiện và chủ động có biện pháp ngăn chặn những trường hợp có khả năng bị lôi kéo, mua chuộc, bị tác động để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Trong cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các phương tiện truyền thông và nhân dân, trong đó Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương đóng vai trò nòng cốt.

Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách phải được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với 3 nhóm giải pháp còn lại được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nhằm tạo sự đột phá trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng trong điều kiện mới./.

----------------------------------------

(1) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (lưu hành nội bộ), Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 31

(2) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr. 26, 27

(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr. 42

Đoàn Minh HuấnPGS, TS, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Tổng Biên tập phụ trách Tạp chí Cộng sản

Video