Nghiên cứu - Trao đổi
Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
14:48' 27/5/2013
TCCSĐT - Quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” là nội dung đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự phát triển rất cơ bản và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với học thuyết của V.I. Lê-nin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.        


Quan niệm Hồ Chí Minh về Đảng “là đạo đức, là văn minh”

Trong Diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (1-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Quan niệm này của Người dựa trên những cơ sở:

Thứ nhất, Đảng là sản phẩm tất yếu của sự vận động cách mạng, đáp ứng yêu cầu giải phóng dân tộc và xu thế phát triển của thời đại

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tồn của dân tộc, là kết quả tất yếu của sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.

Với tư cách là tổ chức chính trị tiên tiến có tính vượt trội hơn so với các tổ chức chính trị cùng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam là con đẻ của sự vận động lịch sử, xuất hiện đáp ứng yêu cầu khách quan của  dân tộc, gánh vác sứ mệnh dẫn dắt nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, giành lấy chủ quyền. Trong cuộc đấu tranh ấy, Đảng tự nguyện nhận làm bộ tham mưu tối cao và đội tiên phong dũng cảm của nhân dân. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống của dân tộc mới được đáp ứng. Và cũng chỉ khi cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dân tộc ta mới hòa vào dòng chảy phát triển của văn minh nhân loại và góp phần vào xu thế của thời đại.

Thứ hai, Đảng là sản phẩm hợp thành của các yếu tố mang giá trị đạo đức, văn minh

Khái quát quy luật đặc thù ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”(1). Đó là sự kết hợp các giá trị đạo đức, văn minh.

Về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người nhận định như sau:

Một là, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học trên nhiều lĩnh vực, là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”(2).

Hai là, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là khoa học về giải phóng toàn diện con người, mang bản chất sáng tạo, đổi mới. Đây là giá trị đạo đức, văn minh cao nhất của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã xây dựng lý luận đúng đắn và toàn diện cho cuộc cách mạng dân tộc chống đế quốc”(3). “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(4). Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chúng ta giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng, chúng ta giành được những thắng lợi đó trước hết nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Ba là, chủ nghĩa Mác - Lê-nin được sáng lập bởi những vĩ nhân kiệt xuất, được bảo vệ và phát triển bởi nhân dân tiến bộ và tạo dựng nên những con người đạo đức, văn minh. C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi về trí tuệ, về đạo đức. Sống cùng thời đại và chịu ảnh hưởng trực tiếp của V.I. Lê-nin trên cả hai phương diện lý luận và thành quả thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi: Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học chủ nghĩa Mác - Lê-nin là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, bất kỳ việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích ấy. Nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ là lý trí mà còn là tình cảm. Người chỉ rõ: “Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(5). Đảng là đạo đức, là văn minh được quy định bởi giá trị đạo đức, văn minh của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Phong trào công nhân là sản phẩm của nền văn minh công nghiệp, là phong trào của giai cấp tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền giải phóng bản thân với giải phóng nhân loại. Đây là môi trường hiện thực của giai cấp công nhân, tiền đề thực tiễn của các Đảng Cộng sản. Phong trào công nhân Việt Nam là phong trào cách mạng xuất phát từ thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật”(6), “chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân”(7). Phong trào công nhân có sức lôi cuốn mạnh mẽ, quyết định chiều hướng phát triển của phong trào dân tộc theo tư tưởng vô sản. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, hòa chung trong dòng chảy đấu tranh của toàn dân tộc và nhân loại tiến bộ, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, và giải phóng con người. Chính vì vậy, phong trào mang giá trị đạo đức, văn minh.

Xuất phát từ đặc điểm một nước thuộc địa nửa phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân Việt Nam còn nhỏ bé, phong trào công nhân còn non yếu. Do đó, phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân để đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang cao nhất trong bảng các giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, đồng thời là giá trị đạo đức cao đẹp nhất của nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và phong trào công nhân chỉ tồn tại và phát huy được khi được gắn kết chặt chẽ với phong trào yêu nước. Xét ở góc độ bộ phận hợp thành, chủ nghĩa yêu nước là nhân tố quan trọng tạo nên tính đạo đức, văn minh của Đảng.

Thứ ba, Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân để xác định đường lối, chủ trương. Đường lối đó tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Là Đảng của giai cấp công nhân, Đảng mang trong mình tất cả những phẩm chất ưu việt của giai cấp công nhân, trong đó có bản chất đạo đức, văn minh. Là Đảng của nhân dân lao động, Đảng đại diện cho lực lượng sáng tạo ra mọi nền văn minh, mọi giá trị đạo đức. Là Đảng của dân tộc, Đảng kết tinh truyền thống hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc, trọng đạo đức, trọng nghĩa tình. Xét trên cả phạm vi thế giới và dân tộc, cái chung nhân loại và cái riêng đất nước, Đảng đều đại diện cho những lực lượng tiến bộ trong xã hội.

Thứ tư, Đảng có mục tiêu lý tưởng đạo đức, văn minh

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đặc trưng của lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là tính nhân đạo chân chính, được xác lập trên cơ sở hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, tiêu diệt tận gốc quan hệ thống trị, phụ thuộc và chế độ người bóc lột người, xác lập quan hệ mang tính người, với phương châm “tất cả vì con người, vì hạnh phúc của con người”. Sự thỏa mãn toàn diện và triệt để nhu cầu vật chất và tinh thần của con người khiến lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mang giá trị đạo đức, văn minh Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn Đảng ta “chủ nghĩa cộng sản là mục đích cuối cùng của Đảng ta. Đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản là lẽ sống của người đảng viên…, mỗi đảng viên nâng cao quyết tâm phấn đấu suốt đời cho lý tưởng cộng sản…, cần luôn luôn ghi nhớ: Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(8). Đảng xác định mục tiêu của mình là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng một xã hội mới văn minh tiến bộ - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chính vì vậy, Đảng đại diện cho lực lượng tiên tiến, là bộ phận tinh hoa của xã hội, là một tập thể đại diện cho văn minh, tiến bộ.

Đảng là một tổ chức chính trị - xã hội tự nguyện, là liên minh của những người cùng lý tưởng. Muốn biết Đảng đó như thế nào hãy nhìn vào đội ngũ đảng viên. Đảng viên tốt, thì Đảng mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”(9). Đảng là một tập thể bao gồm hầu hết những đảng viên vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, tài đức vẹn toàn, kết thành một tổ chức có năng lực trí tuệ cao, có trình độ văn hóa, có lý luận tiên phong đủ sức dẫn đường cho quần chúng trong các giai đoạn phát triển của lịch sử.

Thứ năm, Đảng được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc tích hợp giá trị đạo đức, văn minh, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn

Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh, tự giác; đoàn kết thống nhất… Đó là những nguyên tắc mang tính chân lý đối với sự sống còn của Đảng, hướng đến tổ chức, củng cố và phát triển Đảng luôn vững mạnh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng văn minh, đạo đức. Chấp hành tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng kiểu mới, tức là Đảng thực hiện đạo đức, là không ngừng rèn luyện cách hoạt động và sinh hoạt văn minh. Điều kiện để bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò cầm quyền là Đảng phải luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn, để loại trừ những yếu tố lạc hậu, tiêu cực, bổ sung nguồn lực mới, làm giàu và phát triển nội lực đang có.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”

Một là, xuất phát từ vị trí, vai trò và phương thức tồn tại của Đảng

Hồ Chí Minh nêu rõ: Cách mạng “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(10). Sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng, yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đối với Đảng đặt ra yêu cầu phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo, vừa giúp cho việc thực hiện vai trò đó một cách hiệu quả nhất. Không xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đồng nghĩa với việc Đảng từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Khi ấy Đảng cũng không tồn tại được. Còn Đảng, còn hoạt động, còn phải thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn, để Đảng vững mạnh.

Hai là, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy, cách mạng luôn chuyển biến theo hướng đặt ra yêu cầu và nội dung ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp, quy mô ngày càng rộng, phạm vi tác động ngày càng sâu sắc. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để Đảng không bị tụt hậu trước những chuyển biến đó, trái lại, còn “bồi bổ” thêm phẩm chất và năng lực để Đảng xứng tầm, thậm chí chủ động trước thời cuộc. Vai trò lãnh đạo của Đảng vì thế được giữ vững. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn là nhu cầu tự hoàn thiện của cán bộ, đảng viên, giúp cho Đảng tránh được “cái chết” từ bên trong, bởi cán bộ là vốn quý của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn giúp cho Đảng củng cố và phát triển đội ngũ, tránh được việc cán bộ bị suy thoái, biến chất, góp phần làm cho Đảng mạnh hơn.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ mà còn là nghĩa cử thiêng liêng của những người đi sau đối với thế hệ trước. Bởi máu đào của các liệt sĩ, các thế hệ đi trước đã làm cho lá cờ Đảng thêm đỏ chói, sự hy sinh anh dũng của họ đã chuẩn bị cho đất nước đơm hoa kết trái, nở hoa độc lập, tự do.

Ba là, xuất phát từ yêu cầu về văn hóa, đạo đức đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của Đảng, của sự nghiệp cách mạng. Hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, thì sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp văn hóa, vì mục tiêu của văn hóa; hiểu văn hóa theo nghĩa hẹp, thì văn hóa là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội). Vai trò động lực của văn hóa thể hiện qua các chức năng: chức năng định hướng, lãnh đạo “văn hóa soi đường cho quốc dân đi… phải đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”(11); chức năng đào tạo “xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc”(12); chức năng kết nối “văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc”; chức năng cải tạo “văn hóa có tác dụng sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, sửa xã hội cũ, xây xã hội mới”. Con người là chủ thể của cách mạng. Xây dựng Đảng là xây dựng con người hợp thành Đảng. Xây dựng con người hợp thành Đảng không có gì khác hơn là xây dựng văn hóa ở tầm cao - văn hóa Đảng.

Trong các thành tố hợp thành văn hóa, thì đạo đức đóng vai trò quan trọng. Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cán bộ cách mạng. Đạo đức cách mạng giúp người cán bộ khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước; gặp thuận lợi, thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần, khiêm tốn; lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ; không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đạo đức cách mạng là gốc của Đảng cách mạng. Gốc có vững bền, nền mới chắc. Không có đạo đức cách mạng, Đảng không có sức mạnh, không hoàn thành được sứ mệnh lịch sử trước giai cấp và dân tộc.

Để Đảng xứng đáng là một Đảng cách mạng, Đảng chân chính, một Đảng “là đạo đức, là văn minh”, một Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, thì Đảng phải thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn. Chỉ có như vậy, Đảng mới có sức sống trường tồn, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách vững vàng tiến lên phía trước.

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhờ đó đưa cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Cũng với tinh thần ấy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, vạch ra tư tưởng chiến lược của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới, cũng như đề ra nhiều biện pháp để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, nhằm nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng./.

----------------------------------

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t. 12, tr. 406

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 11 tr. 96

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd t. 11, tr. 169

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 12, tr. 563

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 15, tr. 668

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd t. 8, tr. 256

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 12, tr. 407

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd t. 15, tr. 114 - 115

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd , t. 7, tr. 50

10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd  t. 2, tr.  289

11. Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 72

12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 7, tr. 40

TS. Nguyễn Thị Kim Dung Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

VIDEO