Thứ Ba, 13/11/2018
Trị Thiên - hướng tiến công chủ yếu trong cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam
19/4/2012 20:35' Gửi bài này In bài này

Hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên năm 1972 diễn ra trong bối cảnh lịch sử rất đặc biệt là Hội nghị Pari bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đang đi tới giai đoạn quyết định một giải pháp chính trị. Do đó, trên hướng tiến công chủ yếu này đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Mỗi bên đều tập trung nỗ lực cao nhất để giành thắng lợi lớn nhất nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho mình, phục vụ cho ý định chiến lược lâu dài, trong các giai đoạn tiếp sau. Hướng tiến công chủ yếu trong Cuộc tổng tiến công chiến lược 1972 trên chiến trường miền Nam đã bảo đảm các yêu cầu đặt ra:

Một là, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã lựa chọn và trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch mở trong Cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972

Theo dõi sát mọi chuyển động trên chiến trường, trong nước, khu vực và thế giới có liên quan tới cuộc chiến tranh Việt Nam, tháng 5-1971, Bộ Chính trị đã họp để đánh giá tình hình, xác định thời cơ chiến lược và đề ra nhiệm vụ cần kíp của quân và dân ta: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

Tháng 8-1971, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trong năm 1972 trên toàn miền Nam nhằm vào ba hướng chính: Trị -Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong đó, chiến trường Trị - Thiên có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược ở miền Trung và Tây Nguyên của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sau khi cân nhắc kỹ, đầu tiên miền Đông Nam Bộ được chọn làm hướng tiến công chủ yếu, rồi đến chọn Tây Nguyên và cuối cùng là chọn Trị - Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu.

Ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về Kế hoạch chiến lược năm 1972, trong đó xác định: “Trị - Thiên từ vị trí là hướng phối hợp quan trọng nay chuyển thành hướng chiến lược chủ yếu nhằm tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới”. Trên hướng tiến công chiến lược chủ yếu Trị - Thiên, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy chiến dịch: Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy. Đây là sự lựa chọn sáng suốt của Quân ủy Trung ương bởi địa bàn Trị - Thiên nằm sát với hậu phương lớn miền Bắc, việc tập trung binh lực, bảo đảm hậu cần, hệ thống giao thông lớn và đặc biệt là tập trung sự chỉ đạo cho một chiến dịch lớn mang ý nghĩa chiến lược tương đối thuận lợi.

Tiếp đó, ngày 15-3-1972, Đảng ủy Bộ Tư lệnh chiến dịch họp triển khai kế hoạch tác chiến và nhấn mạnh: Trị - Thiên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược của địch. Mặc dù bị đánh đau, chúng không chịu từ bỏ một điểm nào. Từ cuối năm 1971, Mỹ - ngụy đã phán đoán hướng tiến công chiến lược năm 1972 của ta, tuy không phải là Trị - Thiên nhưng chúng vẫn tăng cường phòng vệ, ráo riết hành quân, phát hiện lực lượng và sự chuẩn bị của ta. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta quyết định mở đợt tiến công hướng chính là Trị Thiên vào thời gian đúng như dự kiến là 30-3-1972  làm cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn hết sức lúng túng và phải thừa nhận: “Lực lượng của Việt cộng đó gây bất ngờ cho quân phòng thủ của Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ”. Trung tuần tháng 3-1972, Bộ Chính trị thông qua lần cuối và phê chuẩn kế hoạch tiến công trên hướng chủ yếu Trị - Thiên. Theo đó, các đơn vị đã vào vị trí tập kết để chiến dịch bắt đầu từ ngày 30-3 đến ngày 1-5-1972.

Trong quá trình diễn ra chiến dịch, địch có sức cơ động cao, có nhiều khả năng chuyển hóa so sánh lực lượng từ yếu thành mạnh trong thời gian ngắn, nên khi chọn hướng tiến công chủ yếu vào nơi địch yếu và sơ hở Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tính đến khả năng đối phó của chúng khi ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, bộ đội ta phải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động đã ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng của ta ào tới chiếm các mục tiêu của địch. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn do không quen cầm cự với hỏa lực pháo tập trung và chưa được huấn luyện để chặn cuộc tiến công ồ ạt của xe tăng, nên đã tán loạn kinh hoàng trước cuộc tiến công thần tốc của ta.

Tại hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, ta đã sử dụng phương pháp tác chiến tiến công thích hợp để tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự kiên cố, kết hợp tiêu diệt địch và phá thế phòng thủ của chúng. Sau đó, ta dùng phương pháp tác chiến chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch tiến công, tập trung đột phá trọng điểm trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, tạo được ưu thế áp đảo nên ta đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 2-5-1972. Học giả người Mỹ W.R. Baker đã đánh giá: “Cộng sản tấn công với tốc độ nhanh và chính xác. Đây là những cuộc tấn công hướng tới thành Cổ Quảng Trị và quan trọng nhất là một số đơn vị của Cộng sản là lực lượng tại chỗ ngăn chặn bất kỳ sự nỗ lực nào của Việt Nam cộng hòa”.

Sau khi ta giải phóng Quảng Trị, trước yêu cầu về chính trị, Mỹ - ngụy vẫn cố gắng tập trung lực lượng lớn để tổ chức những cuộc tiến công mới nhằm chiếm lại toàn tỉnh Quảng Trị.

Đối với ta, ngay từ giữa tháng 7-1972, qua phân tích tình hình ta, địch, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo phương hướng chuyển chiến dịch vào phòng ngự. Trong điện số 118 - ĐK ngày 10-7 và điện số 144- ĐK ngày 18-7, đồng chí Văn (Bí danh đồng chí Võ Nguyên Giáp) chỉ rõ: “Trong khi thực hiện kế hoạch trước mắt, cần có ngay một kế hoạch tương đối cơ bản”. Liên tiếp các bức điện vào tháng 8, Quân ủy Trung ương cũng truyền đạt ý định tổ chức phòng ngự gọi là: “Kế hoạch tác chiến phòng thủ khu vực”, đồng thời giúp Bộ Chỉ huy chiến dịch tổ chức phòng ngự ở thị xã Quảng Trị.

Ngày 17-9-1972, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Bộ đội ta rút khỏi thị xã là một sự lui quân có tính chất chiến thuật. Cần có nhận thức đầy đủ rằng đứng về phạm vi cả mặt trận thì cuộc chiến đấu của ta còn tiếp tục”. Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Trung ương thường xuyên chỉ đạo chiến dịch rất cụ thể, lưu ý Bộ Tư lệnh chiến dịch coi trọng việc chỉ đạo về cách đánh, về giữ vững trận địa, đặc biệt là khu vực Ái Tử - Đông Hà - Cửa Việt, về việc luân phiên tác chiến và đưa lực lượng ra phía sau củng cố. Trong các bức điện số 253-D, 276, ngày 22-9-1972 tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ của từng cánh quân.

Trong suốt tháng 9, với sự chỉ đạo ráo riết của Quân ủy Trung ương và Bộ Tư lệnh chiến dịch, các hướng mới thực sự quán triệt được yêu cầu phải xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự, mới biết cụ thể cách thức xây dựng chốt, cụm chốt liên hoàn, cách bố trí sử dụng binh lực, hỏa lực. Trong bức điện số 233-Đ, Bộ Tổng Tham mưu chỉ rõ: “Tăng cường hỏa lực, xung lực, tổ chức tốt các khu vực phòng thủ thị xã, bảo đảm phòng thủ liên hoàn có chiều sâu. Chuẩn bị trận địa phòng không thật mạnh, đề phòng tình huống địch tập kích hóa học rồi đổ bộ bằng trực thăng”.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các đơn vị vừa khẩn trương xây dựng trận địa, vừa làm kế hoạch tác chiến phòng ngự, vừa điều chỉnh lực lượng, vừa tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt là trên từng khu vực, nhất là khu vực trọng điểm đã dần dần hình thành hệ thống trận địa phòng ngự liên hoàn, có chiều sâu, tạo thế phòng ngự chắc từng khu vực, hình thành các khu vực phòng ngự sư đoàn, trong đó mỗi trung đoàn hình thành một khu vực trận địa liên hoàn, bao gồm các cụm điểm tựa tiểu đoàn, điểm tựa đại đội, trung đội, yểm hộ lẫn nhau, tạo thế cho nhau, có sự hiệp đồng chi viện của pháo mặt đất và pháo phòng không. Cách đánh cũng được xác định ở từng chốt, cụm chốt lên đến khu vực phòng ngự trung đoàn, sư đoàn nên ta đã giành thắng lợi.

Sự chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch, thể hiện bằng nghệ thuật tổ chức chiến trường, thế trận chiến dịch; cách đánh chiến dịch, chỉ đạo chiến thuật; khi lâm trận lúc thắng không dừng tiến công, khi khó khăn tổn thất không nao núng, mà đã từng bước chuyển hóa thế trận, từ tiến công chuyển vào phòng ngự.

Trong quá trình diễn ra chiến dịch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo cụ thể, sâu sắc để chiến dịch Trị - Thiên thắng lợi. Qua đó, có thể thấy được tác động to lớn của Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam, đặc biệt ở Quảng Trị là rất lớn, đáp ứng kịp thời và có hiệu quả yêu cầu của đấu tranh ngoại giao trên bàn hội nghị.

Hai là, hướng tiến công chiến lược Trị -  Thiên 1972 là chiến dịch có quy mô lớn nhất (từ đầu kháng chiến chống Mỹ đến năm 1972) cả về không gian, thời gian, lực lượng sử dụng và mức độ ác liệt

Do vị trí đặc biệt của Trị - Thiên đối với cả địch và ta năm 1972, tại chiến trường này đã xảy ra sự đọ sức quyết liệt nhất giữa địch và ta, bên nào cũng nỗ lực cao nhất, tập trung mọi khả năng có thể có, để giành thắng lợi. Ta đã sử dụng một lực lượng lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ, bao gồm nhiều sư đoàn chủ lực, cả bộ binh và binh chủng kỹ thuật. Địch cũng đưa hầu hết các lực lượng tinh nhuệ và dự bị chiến lược vào cuộc đọ sức này. Quân ngụy miền Nam đã dùng lực lượng dự bị chiến lược tinh nhuệ nhất mới xây dựng được sau hai năm “Việt Nam hóa chiến tranh”; Mỹ ồ ạt triển khai trở lại lực lượng không quân (kể cả không quân chiến lược) và hải quân (bao gồm cả tàu sân bay của Hạm đội 7) để chi viện cho quân ngụy.

Các lực lượng của ta và địch tại Trị - Thiên gồm: Bộ binh: ta: 11 sư đoàn và 23 trung đoàn; địch: 13 sư đoàn và 11 trung đoàn, lữ đoàn; Pháo binh: ta: 5 trung đoàn và 7 tiểu đoàn; địch: 65 tiểu đoàn và 85 trung đội; Tăng, thiết giáp: ta: 4 tiểu đoàn; địch: 22 tiểu đoàn và 21 trung đội. Ngoài ra địch còn có 1692 máy bay chiến đấu các loại, 1611 hạm tàu. Các lực lượng của ta và địch đều được bố trí thành các cụm phòng ngự liên hoàn, có công sự kiên cố. Ở thời điểm đầu năm 1972, trên một hướng chiến lược chủ yếu cả ta và địch đã tập trung đến mức cao nhất về lực lượng để quyết chiến thắng.

Bắt đầu từ trưa ngày 30-3-1972, Sư đoàn 308 với sự yểm trợ của trung đoàn xe tăng và pháo binh vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2 miền. Từ phía Tây, Sư đoàn 324B, với xe tăng yểm trợ theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Lực lượng tương đương 3 sư đoàn này của ta đã “gây bất ngờ cho quân phòng thủ Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ”, sau đó làm tan rã lực lượng này. Trong thời gian từ ngày 2-4 đến ngày 29-4, quân ta chủ động tiến công trên nhiều hướng và đến trưa ngày 1-5-1972, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh Sư đoàn 3 ngụy) bỏ chạy khỏi Quảng Trị. Từ Huế, tại đồn Mang Cá, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm xúc động mạnh và nói: “Tối nay, địch (Việt cộng) sẽ vào Quảng Trị mà không tốn thêm một viên đạn nào”  và tình báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo đã viết: “Về cơ bản, các lực lượng quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Quân đội Việt Nam cộng hòa ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tiến công”.

Từ 30-3 đến 1-5-1972, quân và dân Quảng Trị đã quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố nhất và đập tan bộ máy kìm kẹp của Mỹ - ngụy từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh, từ Lao Bảo đến Cửa Việt. Báo Quảng Trị giải phóng, số ra ngày 4-5-1972 có đoạn: “Thắng lợi ở Quảng Trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó tỏ rõ sự trưởng thành vượt bậc, sức mạnh to lớn của ta, chính quyền Mỹ bị sức ép mạnh của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới” và giới quân sự ở Sài Gòn nhận định: “Thật khủng khiếp, Bắc Việt Nam sử dụng lực lượng ồ ạt như vũ bão trong các cuộc tiến công. Và rồi họ chiến thắng, bỏ xa quân đội Việt Nam cộng hòa”

Mặc dù từ đầu đến cuối chiến dịch, ta luôn giữ quyền chủ động chiến lược, chiến dịch, buộc địch phải bị động điều quân, làm cho thế bố trí chiến lược của chúng trên toàn miền Nam bị đổ vỡ, rối loạn, nhưng khả năng của ta có hạn, không thể đánh dứt điểm các mục tiêu như ý định ban đầu. Mặc dù vậy, cuộc đương đầu lịch sử đã phân rõ thắng bại.

Sau khi ta giải phóng Quảng Trị, đối tượng tác chiến của chiến trường Trị - Thiên từ tháng 5-1972 là quân tinh nhuệ nhất của ngụy và 2 quân chủng mạnh nhất của Mỹ. Ngoài ra, để chuẩn bị cho âm mưu lâu dài sau Hiệp định Paris, chỉ trong vài tuần lễ cuối tháng 11-1972, Mỹ đã ồ ạt đưa toàn bộ số viện trợ quân sự của cả năm 1973, trị giá hàng chục tỉ đô la vào cho quân ngụy. Đồng thời Mỹ đã chi viện hỏa lực cho ngụy quân lúc này còn cao hơn cả thời kỳ chi viện cho bộ binh Mỹ chiến đấu.

Cùng với sự viện trợ lớn nhất về vũ khí và tiền bạc, Mỹ - ngụy còn sử dụng một khối lượng bom đạn lớn nhất của cuộc chiến tranh để ném vào chiến trường Quảng Trị. Trong phạm vi một chiến dịch, hơn 2 phần 3 tổng số lần xuất kích của máy bay trên chiến trường Đông Dương địch dồn vào chiến trường này (có ngày tập trung cả 100% phi vụ B52), trong đó Mỹ đảm nhiệm 97% lực lượng không quân tham gia chi viện.

Mỹ - ngụy huy động toàn bộ lực lượng vào hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên, bởi vì, về quân sự, khu vực Nham Biều, Ái Tử, Đông Hà nằm trên các trục đường chủ yếu, trong đó có đường số 1, đường số 9, đường sông, sân bay. Chiếm được khu vực này địch có một bàn đạp lợi hại để tiếp tục đánh ra vùng giải  phóng của ta. Nhưng mọi cố gắng của địch đều không làm thay đổi được tình hình mà chỉ trực tiếp làm cho cuộc chiến đấu ở Quảng Trị, cả tiến công và phòng ngự đều diễn ra quyết liệt, gay go, phức tạp kéo dài, gây nên những hao tổn lớn cho cả ta và địch và kết thúc vào ngày 31-1-1973.

Ba là, thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên 1972 là đòn quân sự mạnh, có tính quyết định, góp phần vào đòn tiến công chính trị buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1972 theo các điều kiện Việt Nam đưa ra

Mục đích của Mỹ ở thời điểm năm 1972 này là chúng vừa đánh vừa đàm, lấy thắng lợi ở chiến trường làm điều kiện ưu thế trong thương lượng, lấy Trị - Thiên làm chiến trường chủ yếu đọ sức với ta để giành thắng lợi chiến lược trong bước ngoặt lịch sử quan trọng. Bên cạnh đó, yêu cầu chính trị của giới cầm quyền Mỹ trước cuộc tranh cử Tổng thống cuối năm 1971, rồi trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quân và ngụy quyền, Mỹ rất muốn có một thắng lợi lớn về chiến lược để chứng minh cho sự đúng đắn hoặc sức mạnh của cái gọi là: “Học thuyết Ních - xơn” và kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, những mục tiêu chiến lược ấy thúc ép Mỹ trở lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng mọi giá. Bởi vậy, một mặt Mỹ ra sức tăng cường viện trợ tiền của, phương tiện chiến tranh, tiến hành mọi biện pháp ngoại giao để cứu nguy cho quân ngụy, mặt khác chấp nhận ồ ạt trở lại tham chiến bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn hòng xoay chuyển lại tình hình.

Trước tình hình đó, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tính đến mọi nỗ lực cao nhất của chúng về chiến lược và thủ đoạn chính trị, ngoại giao, thấy rõ ý đồ chung của Mỹ - ngụy, ý đồ riêng của Mỹ. Vì vậy, việc quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên là thời cơ mở ra cho chúng ta triển vọng giành thắng lợi lớn trong năm 1972; đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta phải cố gắng ở mức cao nhất nhằm giành được thắng lợi lớn nhất, từ thắng lợi quân sự tạo sức ép buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, phải rút hết quân đội Mỹ và đồng minh về nước và ngụy quân, ngụy quyền suy yếu một bước nghiêm trọng. Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, chúng ta đã thành công trong chủ động căng, kéo, phân tán lực lượng địch ra để quyết chiến và từng bước tiêu diệt chúng theo ý đồ chiến lược của ta; từ đó ta tạo được ưu thế trong đàm phán và thúc đẩy đàm phán với Mỹ để sớm đi tới một giải pháp chính trị, kết thúc cuộc chiến tranh theo điều kiện của Việt Nam đưa ra, đồng thời vẫn giữ được “thể diện” và “danh dự” cho phía Mỹ.

Nhiệm vụ của hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên rất nặng nề. Về mặt chính trị, thị xã Quảng Trị bao gồm cả thành Cổ, là mục tiêu có tính tượng trưng nhất mà địch cố chiếm bằng được nhằm giành lợi thế ở Hội nghị Paris, nó còn có ý nghĩa tuyên truyền kích động binh sĩ địch và lừa bịp dư luận thế giới lấy lại “danh dự” của chúng sau thất thủ Quảng Trị tháng 5-1972. Vì vậy, ta vừa phải phối hợp tác chiến nhịp nhàng, chặt chẽ với các hướng chiến trường khác để đạt cho được mục tiêu chiến lược đề ra, lại vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Để đạt được yêu cầu đó, chúng ta chủ động mở Cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 trên ba hướng; kiên quyết chấp nhận cuộc đọ sức tổng lực ở cường độ cao với địch trên chiến trường Quảng Trị. Đồng thời chỉ đạo quân và dân miền Bắc chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đập tan cuộc tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở miền Bắc.

Thực hiện nhiệm vụ nặng nề ấy, tại chiến trường Trị - Thiên năm 1972 ta chủ động mở chiến dịch, tiến hành chuẩn bị chiến trường chu đáo, tận dụng mọi thời cơ thuận lợi, bảo đảm các mặt vật chất tương đối đầy đủ, có lực lượng chiến dịch sung sức với lực lượng dự bị chiến dịch mạnh; có điều kiện chín muồi kết hợp giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nên ta có thể tranh thủ được khả năng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng toàn chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên trong phạm vi một chiến dịch tiến công quy mô lớn; trên cơ sở thực tế điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có những chuyển biến mới có lợi cho ta trên chiến trường này.

Thực tế, cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ đã kéo dài suốt cả năm 1972, rất quyết liệt và đầy căng thẳng, mặc dù Mỹ đã lâm vào thế thất bại nhưng vẫn cố vùng vẫy để “mặc cả” với ta theo những điều kiện của chúng đưa ra. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta đã họp bàn và giải pháp đưa ra là cần phải tiến hành một loạt chiến dịch kế tiếp nhằm tạo ra một đòn mạnh về quân sự buộc địch phải chấp nhận thất bại trên chiến trường, mà bắt đầu bằng chiến dịch tiến công tại Quảng Trị. Đúng như dự kiến của Trung ương Đảng, khi kết thúc chiến dịch, bản báo cáo từ Sài Gòn gửi về Washington của địch đã phơi bày: “Quân Bắc Việt đã chiến thắng trên chiến trường Quảng Trị. Giờ đây, bàn Hội nghị tại Pari không còn có sức hút đối với Mỹ nữa…”

Việc giải phóng tỉnh Quảng Trị, một địa bàn chiến lược tiếp giáp miền Bắc xã hội chủ nghĩa cùng với một số dân được giải phóng sau hơn 18 năm dưới ách kìm kẹp của kẻ thù, nhân dân phấn khởi ra sức củng cố địa phương và tham gia kháng chiến, thực sự tạo ra lợi thế mới trong cuộc đấu tranh chính trị tại Hiệp định Paris. Cũng qua thắng lợi của chiến dịch đã đã đẩy lùi phần đất tạm thời do quân ngụy kiểm soát xuống phía Nam. Về mặt quân sự, vùng giải phóng Quảng Trị trở thành một địa bàn chiến lược - chiến dịch quan trọng với nhiều tuyến đường giao thông thủy, bộ thuận tiện. Đặc biệt, từ đây đã tạo thế để củng cố và bảo vệ vững chắc tuyến đường vận tải đường biển khá quan trọng với Cảng Cửa Việt - một trong những cảng lớn ở miền Trung.

Có thể nói, thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự chỉ đạo, chỉ huy chiến lược, chiến dịch sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phân tích và lường định đúng về tình hình, thời cơ, hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam vào thời điểm có lợi nhất trên một hướng chiến lược quan trọng.

Việc chọn hướng tiến công chủ yếu Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi to lớn, góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấp nhận rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam nước ta, đẩy nhanh quân ngụy vào thế suy sụp mới. Đây là kết quả to lớn trên con đường tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, tạo nên thế chiến lược mới có lợi cho ta để đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng./.

1) Bộ Quốc phòng 1945 – 2000, Biên niên sự kiện, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, H, tr. 399

(2) David Fulghum & Terrance Maitland, et al, South Vietnam on Trial. Bo ston: Boston Publishing Company, 1984, tr.138

(3) Xem tập tài liệu về đánh giá của nước ngoài về Cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, HS số 33, Lưu TTXVN

(4) Các điện số 118- ĐK ngày 10-7-1972; 144- ĐK ngày 18-7-1972 lưu tại thư viện Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, hồ sơ số 1262 và 238- Lưu trữ Bộ Quốc phòng

(5) Xem hồ sơ số 43 - Tổng kết chiến dịch Trị - Thiên, Tài liệu lưu TTXVN

(6) Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1945 - 1975), QĐND, H, 2001, tr.356

(7) Một chiến thắng bị bỏ lỡ - William Colby- Nhà xuất bản Công an nhân dân p 372

(8) Trích theo: “Cuộc triệt thoái đầy bi thảm khỏi thành phố Quảng Trị, Quốc Hưng dịch, Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 5-1992, tr.89

(9) Xem tập tài liệu về đánh giá của nước ngoài về Cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, HS số 33, Lưu TTXVN

(10) Tài liệu của Việt Nam cộng hòa năm 1970 - 1971, Phông số 4, Hồ sơ số 61, Lưu TTXVN

(11) Fulgham & Maitland, tr.183

(12) Tài liệu của Việt Nam cộng hòa năm 1970 - 1972, Phông số 4, Hồ sơ số 45, Lưu TTXVN

Đại tá, ThS Nguyễn Văn QuangĐại tá Đoàn Văn Minh Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Video