Thứ Năm, 15/11/2018
Đồng chí Lê Duẩn với vấn đề con người trong văn hóa Việt Nam
7/4/2012 10:27' Gửi bài này In bài này

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ư­ơng Đảng ta do đồng chí Tr­ường Chinh đọc tại lễ truy điệu đồng chí Lê Duẩn, đã đánh giá: “Là một ng­ười mácxít - lêninít chân chính, đồng chí luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật tr­ước b­ước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”. Với t­ư duy năng động, sáng tạo, đồng chí đã có những cống hiến xuất sắc trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá... Đặc biệt trên lĩnh vực văn hoá, đồng chí đã dành nhiều thời gian nghiên cứu đặc điểm truyền thống con người Việt Nam và có nhiều luận điểm đặc sắc. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình bày một số luận điểm cơ bản của đồng chí Lê Duẩn về vấn đề con người trong văn hóa Việt Nam.

Luận điểm "con người luôn là con người lịch sử, con người xã hội"

Với đồng chí Lê Duẩn, con người trước hết là con người lịch sử. Đồng chí luôn nhìn nhận con người trong mối quan hệ với lịch sử và đạo lý dân tộc. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Tuyên giáo toàn miền Bắc năm 1962, đồng chí Lê Duẩn đã nêu luận điểm: "Con người luôn là con người lịch sử, con người xã hội. Nó là sản phẩm của một xã hội nhất định"(1). Luận điểm của đồng chí thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa con người với lịch sử và với xã hội. Theo đồng chí Lê Duẩn, con người là sản phẩm của lịch sử của một xã hội nhất định, lịch sử của một dân tộc nhất định, bởi con người bao giờ cũng gắn liền với lịch sử của một xã hội, lịch sử của một dân tộc mà con người đó sống và hoạt động. Không có con người chung chung, thoát ly khỏi một xã hội cụ thể, khỏi một dân tộc cụ thể. Con người  không thể thiếu cội nguồn lịch sử, không thể đứng bên lề của tiến trình lịch sử xã hội. Đã là con người thì đều có lý trí và tình cảm. Khi đề cập đến tình cảm của con người thì đó chính là đề cập đến tình cảm của những con người trong một xã hội và một dân tộc cụ thể.

Qua thực tiễn hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Duẩn nêu nhận xét về lịch sử quá trình hình thành xã hội của cộng đồng dân tộc Việt Nam: "Ở Việt Nam, dân tộc hình thành từ khi lập nước, chứ không phải khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Do đó, người Việt Nam có tình cảm dân tộc rất sâu sắc, có tinh thần dân tộc rất mạnh mẽ"(2). Đồng thời, đồng chí còn khái quát đặc điểm con người trong lịch sử truyền thống của dân tộc Việt Nam: "Có lẽ do biết coi trọng đạo lý làm người và biết làm người mà dân tộc Việt Nam ta đã đấu tranh tồn tại được và trưởng thành nên một dân tộc độc lập, một quốc gia độc lập. Đạo lý làm người đó đã hun đúc nên dân tộc Việt Nam, tạo cho dân tộc ta có sức sống mãnh liệt và cũng nhờ thế mà ngày nay chúng ta mới có được những trang sử vô cùng oanh liệt và vẻ vang"(3).

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng, mà luôn xem xét con người cụ thể và có mối quan hệ với xã hội, đồng thời cũng thừa nhận cái riêng, cái cá nhân của mỗi con người không tách rời đời sống xã hội. C.Mác đã viết: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội". Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác lại viết: "Cái nhân tính của con người mang tính lịch sử trong tổng hòa của sức sản xuất, của tiền vốn, của những hình thái quan hệ mà mỗi cá nhân, mỗi thế hệ tìm thấy sẵn"(4). Mối quan hệ giữa con người với xã hội cũng đã được phản ánh trong văn học dân gian của dân tộc ta và nó trở thành đạo lý, lẽ sống của con người Việt Nam. Ví như: "...Một ngôi sao chẳng sáng đêm, một bông lúa chín chẳng nên mùa vàng, một người đâu phải nhân gian...".

 Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và từ truyền thống dân tộc, đồng chí Lê Duẩn luôn nhìn nhận con người trong mối quan hệ biện chứng với xã hội. Bởi, con người là một thực thể xã hội, không thể có con người riêng biệt nào có thể tách mình ra khỏi xã hội mà tồn tại. Mỗi cá nhân con người chỉ có thể tồn tại khi dựa vào xã hội và gắn bó với xã hội. Ngược lại, xã hội là tổng thể những con người riêng biệt, nên xã hội chỉ có thể phát triển khi tạo điều kiện cho sự phát triển của mỗi cá nhân. Mọi sự tách rời và đối lập giữa cá nhân con người với xã hội đều tạo ra sự khủng hoảng của xã hội và sự bần cùng của cá nhân con người. Mặt khác, nhân tố xã hội không tồn tại ở ngoài con người mà nằm ngay trong tiềm thức, tư duy và ý chí của mỗi con người.

Đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ, con người không phải là siêu hình, không thể thiếu nguồn gốc xã hội, không thể đứng biệt lập bên ngoài xã hội, mà là tổng hòa những yếu tố biện chứng: có cái riêng và cái chung, có cái cá nhân và cái xã hội, có mặt tích cực và mặt tiêu cực, có cái bất biến và cái khả biến, v.v.. Ví như, người Việt Nam có tinh thần yêu nước, cần cù lao động, có tính tập thể, tính cộng đồng cao..., nhưng cũng dễ rơi vào bản vị, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, coi nhẹ vai trò cá nhân... Về mối quan hệ này, đồng chí Lê Duẩn đã nói: "Đã là một con người thì phải có cái riêng của con người. Không thể có một con người siêu hình. Không thể phá đơn vị con người. Không có cái riêng con người nữa thì xã hội sẽ mất hết ý nghĩa, mất cơ sở"(5). Thật vậy, con người tồn tại trước hết với tư cách là cái riêng, cái tôi trong mối quan hệ với cái chung, cái xã hội. Chính mỗi con người như một giá trị riêng độc đáo mới tạo nên sự phong phú, đa dạng của xã hội. Đồng chí cũng giải thích thêm: "Xã hội không xóa bỏ tất cả những cái riêng của mọi người, nhưng mỗi người phải tham gia vào cái chung, phải phục vụ cái chung, vì cái chung... Chủ nghĩa xã hội không bao giờ chủ trương xóa bỏ quyền lợi cá nhân, mà chỉ làm sao cho quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể nhất trí với nhau. Ta khuyến khích mỗi người cố gắng tiến lên để đời sống chung và riêng được khá hơn... Hơn nữa, hiện nay về mặt kinh tế, phần cá thể vẫn còn là một nguồn sống của mỗi con người chúng ta"(6). Trong khi coi trọng cái riêng, quyền lợi cá nhân, đồng chí cũng phê phán tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, bản vị, cục bộ. Có thể nói, từ những năm 60 của thế kỷ trước, trong khi mọi người đều quan tâm đến cái chung, cái tập thể, đồng chí Lê Duẩn đã nêu ra những ý kiến tôn trọng cái riêng, tôn trọng lợi ích cá nhân. Điều này thể hiện một nhãn quan văn hóa, một tư duy sáng tạo lớn của đồng chí.       

Chính vì thế, khi đề cập đến vấn đề xây dựng con người, đồng chí Lê Duẩn lưu ý, nhắc nhở và đòi hỏi: "Vấn đề ở đây là xây dựng con người, con người được tạo ra trong quá trình lịch sử, chứ không phải con người trừu tượng, con người có một truyền thống dân tộc, có cả một lối sống theo dân tộc họ. Muốn xây dựng con người thì phải thấy con người đó là con người nào, con người Việt Nam, con người Liên Xô hay con người Trung Quốc. Họ có truyền thống khác nhau và do đó tâm lý của họ không giống nhau"(7). Tuy nhiên, đồng chí cũng nhắc nhở: "Ta là người Việt Nam nhưng ta hiểu rõ ta không phải là việc dễ, hiện nay chưa phải chúng ta đã hiểu rõ người Việt Nam lắm đâu. Muốn hiểu rõ phải đối chiếu với người khác, nếu không thì mình không hiểu được mình"(8). Hiểu rõ con người Việt Nam trong nền văn hóa dân tộc là thế nào và thấy rõ những mặt mạnh và mặt yếu nào để phải làm gì cho phù hợp với đặc điểm dân tộc và thời đại theo quy luật tiến hóa của lịch sử là rất quan trọng và cần thiết. Đây là một trong những điểm mấu chốt chi phối quan niệm, cách nhìn và phương pháp tiến hành không chỉ trong lĩnh vực văn hóa mà cả trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và đấu tranh cách mạng.

Những luận điểm đặc sắc trên đây của đồng chí Lê Duẩn cho đến nay vẫn nguyên giá trị. Do đó, chúng ta, cần nhận thức cho đúng để vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay. Nghĩa là, cần nắm vững về con người, lịch sử và xã hội Việt Nam, phải nghiên cứu tính cách con người, truyền thống dân tộc Việt Nam để thấy những cái lỗi thời, lạc hậu cần hạn chế, xóa bỏ, thấy được những giá trị tốt đẹp cần bổ sung, phát huy, hoàn thiện cùng với sự vận động, biến đổi của tiến trình lịch sử dân tộc và thời đại.

Luận điểm "con người sống phải có tình thương và lẽ phải"

Sinh thời, đồng chí Lê Duẩn luôn nhắc nhở: "Con người sống phải có tình thương và lẽ phải". Đó là đạo lý, lẽ sống của con người Việt Nam. Vì tình thương và lẽ phải chính là tình cảm và lý trí của mỗi con người được đồng chí Lê Duẩn nói một cách dung dị và dễ hiểu. Lý trí và tình cảm là hai phạm trù triết học, đồng thời là hai thuộc tính thiêng liêng của con người. Từ lâu, con người Việt Nam đã sống với nhau có tình, có nghĩa. Tình là tình cảm, tình thương. Nghĩa là lý trí, hiểu biết. Đạo lý và lẽ sống đó đã đi vào tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc ta: "Thương người như thể thương thân", "Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ", "Chị ngã em nâng", "Bầu ơi thương lấy bí cùng", "Nhiễu điều phủ lấy giá gương", v.v..

Tuy nhiên, đạo lý và lẽ sống đó không dừng lại ở tình thương đơn thuần, mà luôn hướng tới "tình dân tộc, nghĩa đồng bào", trong đó lợi ích của mỗi cá nhân, của gia đình luôn gắn với lợi ích của xã hội, của dân tộc. Tình thương, tình cảm phải kết hợp chặt chẽ với lý trí, lẽ phải để tạo nên sự hài hòa trong trái tim của mỗi con người. Lẽ phải, lý trí kết hợp chặt chẽ với tình thương, tình cảm sẽ tạo nên sức mạnh dời non lấp biển, tính tất yếu giữa tình thương và lẽ phải càng sâu sắc, càng mãnh liệt. Tình thương không chỉ dừng lại ở gắn bó, cố kết xã hội, mà tình thương còn trở thành điều kiện đầu tiên để dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Thật vậy, không có tình thương, tình cảm dân tộc thì làm sao có thể có lẽ phải, lý trí để xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở Việt Nam, mỗi bước trưởng thành và phát triển của dân tộc đều là những bước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đều làm sâu sắc và mãnh liệt hơn sức mạnh của tình cảm và lý trí, tình thương và lẽ phải.

Lịch sử con người, dân tộc Việt Nam nếu không có lẽ phải và tình thương, không có lý trí và tình cảm, không có lòng yêu nước nồng nàn thì làm sao tích lũy được kinh nghiệm để có thể chiến thắng được các kẻ thù hùng mạnh trong các thời điểm lịch sử khác nhau, làm sao có thể chiến thắng trong các cuộc dẹp Hán, chinh Tống, bình Nguyên, phá Minh, phạt Thanh, kháng Pháp, chống Mỹ… Từ thực tiễn lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, đồng chí Lê Duẩn rút ra kết luận: "Lòng yêu nước hình thành từ lúc con người Việt Nam, xã hội Việt Nam hình thành. Chúng ta không bao giờ được quên điều đó. Lòng yêu nước làm cho người Việt Nam đoàn kết gắn bó với nhau. Khi có khó khăn thì càng dân chủ hơn, thương yêu nhau hơn, đoàn kết hơn. Đó là cơ sở đầu tiên để tạo nên sức mạnh của dân tộc ta để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược"(9).

Chính vì lẽ đó, đồng chí Lê Duẩn thường phân tích mối quan hệ giữa tình thương và lẽ phải như một điều quan trọng nhất của người cách mạng. Theo đồng chí, ở mỗi con người hoàn thiện bao giờ cũng phải có sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm. Bởi, tình cảm thôi thúc lý trí, lý trí soi đường cho tình cảm. Tình cảm mãnh liệt sẽ biến thành lý trí và hành động đúng đắn. Lý trí đúng đắn sẽ chỉ đạo tình cảm càng sôi nổi, say sưa. Đồng chí nhiều lần khẳng định: "Làm cách mạng có hai điều quan trọng nhất: có tình cảm cách mạng sôi nổi, say sưa, có hiểu biết dồi dào về khoa học cách mạng... Tình cảm cách mạng là cái cơ sở trước nhất, có tình cảm cách mạng đầy đủ thì sẽ có quyết tâm học tập, nâng cao tri thức cách mạng của mình"(10). Một lần, con gái của đồng chí Lê Duẩn đề nghị giải thích thêm về luận điểm "tình thương và lẽ phải", đồng chí nói: "Có những con người cụ thể trước khi đến với chủ nghĩa cộng sản, đến với cách mạng từng phải trực tiếp chịu cảnh cơ hàn của mất nước nhà tan, nhưng cái làm nên sức mạnh của những người cộng sản luôn cao hơn nỗi đau khổ cá nhân; người ta đến với lý tưởng, chấp nhận hy sinh vì nó là nỗi khát vọng về tình thương và lẽ phải cho mỗi đồng bào mình". Chỉ có nâng cao tình cảm cách mạng và tri thức cách mạng, tình thương và lẽ phải, con người  mới có niềm tin vững chắc vào lý tưởng của mình, mới sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của nhân loại.

Cũng cần nói thêm rằng, "tình thương và lẽ phải" được đồng chí Lê Duẩn thể hiện nổi bật trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Từ thuở thiếu thời, đồng chí đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân sống cơ cực dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân, phong kiến, đồng chí đã nuôi hy vọng phải cứu nước, cứu nhà. Như lời đồng chí tâm sự: "Hồi 15 tuổi, đọc lịch sử, tôi buồn lắm, nghĩ nhất định phải đi cứu nước"(11). Xuất phát từ tình thương đồng bào, quê hương, đất nước mà đồng chí đã có lý trí, quyết tâm mang trọn đời mình hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tình cảm mãnh liệt ấy đã thôi thúc đồng chí phát huy tinh thần sáng tạo, góp phần xây dựng một chiến lược cách mạng đem lại những thành công cho cách mạng nước ta và đã có những cống hiến to lớn cho cách mạng Việt Nam, như Điếu văn truy điệu đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Lý tưởng và hoài bão suốt đời của đồng chí là Tổ quốc độc lập và thống nhất, nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ cuộc sống của mình".

Luận điểm “gia đình là tế bào tự nhiên của xã hội".

Liên quan đến con người và xã hội là vấn đề gia đình, những tế bào cấu thành xã hội. Vấn đề gia đình được đồng chí Lê Duẩn quan tâm từ rất sớm. Cách đây hơn 50 năm, đồng chí đã viết: “Gia đình là tế bào tự nhiên của xã hội, là một hình thức tồn tại của đời sống con người. Không có gia đình để tái sản xuất ra bản thân con người thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được”(12). Trong quan niệm của đồng chí, gia đình có vai trò rất quan trọng. Đồng chí viết: "Lòng thương mến gia đình là cơ sở của lòng thương đồng bào, yêu đất nước; càng thương gia đình, thương đồng bào, yêu đất nước, càng căm thù đế quốc phong kiến, căm thù áp bức bóc lột, càng hăng hái đấu tranh cách mạng... Không có tình thương cha, nhớ mẹ, tình thương yêu con cái, thì không thể có tình yêu nhân dân"(13).

Nói tới gia đình, đồng chí Lê Duẩn đề cập trước tiên đến người phụ nữ Việt Nam với thiên chức là người mẹ, người vợ, người chị trong gia đình truyền thống Việt Nam và có những kiến giải sâu sắc của nhà văn hóa lớn. Đồng chí đã chỉ ra những bất công và áp bức đối với người phụ nữ trong xã hội cũ: "Từ trước đến nay không những phụ nữ bị áp bức nhiều nhất về mặt giai cấp mà cả về mặt tập quán và đạo đức cũ. Ví dụ, vấn đề tam tòng tứ đức. Đó là sợi dây oan nghiệt buộc chặt người phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Nếu không giải phóng người phụ nữ khỏi sự ràng buộc của nền nếp đạo đức phong kiến cổ hủ thì lập trường giai cấp vẫn còn thiếu sót"(14).

Đồng chí đặc biệt xúc động khi nói về bà mẹ Việt Nam. Trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, đồng chí dành những lời ưu ái nói về các bà mẹ mang đậm nét văn hóa Việt: "Mẹ thương con bằng trời bằng bể", "Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn", "Cha sinh không bằng mẹ dưỡng", "Người mẹ còn dưỡng, vừa là nuôi, vừa là dục", "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra",v.v.. Rõ ràng theo quan niệm của đồng chí, người mẹ sinh con, nuôi con, dạy con, duy trì nòi giống, bảo đảm cho xã hội phát triển. Có thể nói người mẹ nuôi con bằng toàn bộ tinh lực của mình, ngoài nghĩa cả đối với đất nước, còn có tình mẫu tử, đã góp phần giữ gìn và lưu truyền văn hóa dân tộc từ đời này sang đời khác.

Trong nhiều lần gặp gỡ đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, đồng chí đều khuyến khích xây dựng hình tượng người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp. Trò chuyện với anh em làm công tác văn nghệ năm 1972, đồng chí nói: "Bà mẹ Việt Nam ta gắn với tiến trình đi lên của lịch sử dân tộc rất chặt chẽ. Chúng ta tự hào trước kia có Bà Trưng, Bà Triệu và ngày nay có biết bao phụ nữ anh hùng... Chúng ta phải biết ơn những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra những người con anh hùng, những lớp người đã có công giữ cho nước ta tồn tại và phát triển đến ngày nay"(15). Ngày nay, chúng ta đều coi gia đình là tế bào của xã hội, văn hóa gia đình đã trở thành giá trị chân chính của đạo đức, văn hóa và những giá trị nhân văn truyền thống mà đặc điểm nổi bật là tính gia phong, hiếu thảo, hiếu học, là xây dựng “gia đình văn hóa”, “làng văn hóa”, “khu dân cư văn hóa”, v.v.. phải chăng là có điểm chung với tư tưởng của đồng chí Lê Duẩn.

Cuộc đời của đồng chí Lê Duẩn là cuộc sống trung thực, giản dị, luôn gần gũi đồng bào, đồng chí, có tình thương yêu tha thiết và chân thành đối với mọi người, quan tâm đến ý kiến và nguyện vọng của nhân dân. Trên lĩnh vực văn hóa, đồng chí có nhiều đóng góp quan trọng. Phân tích một vài luận điểm trên cho thấy, đồng chí Lê Duẩn am hiểu sâu sắc đặc điểm con người trong văn hóa Việt Nam truyền thống, thể hiện nhãn quan của nhà văn hóa lớn. Nắm vững những đặc điểm này là cơ sở rất quan trọng trong việc kế thừa, phát huy những giá trị tốt đẹp, hạn chế, loại trừ cái lạc hậu, cái lỗi thời trong việc đề ra những chủ trương, quyết sách lớn nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay./.

   

-------------------------------------------------------
          

1,3,5,6,8. Lê Duẩn: Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1977, tr. 59,72,108,61,59

2,7. Lê Duẩn: Thanh niên với cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb. Thanh niên, Hà Nội,1980, tr. 50,169 

4. C.Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 665

9. Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr.456

10. Lê Duẩn: Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động toàn miền Bắc, ngày 27-1-1959

11. Kỷ yếu Hội nghị khoa học: Huế - 100 năm lịch sử (1885 - 1985), Huế, 1985, tr. 4

12,13,15. Viện Văn hóa: Lê Duẩn về văn hóa, văn nghệ, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1977, tr. 157, 257,167

14. Văn kiện Đảng về công tác vận động phụ nữ (1939-1969), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1970, tr.124.

                                                                   

 

PGS, TS Vũ Văn PhúcTổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Video