Nghiên cứu - Trao đổi
Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam
19:6' 28/2/2012
TCCS - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược là: “xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn”, đồng thời nêu rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2011 - 2015 là “xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hệ thống giao thông”. Để chủ trương đúng đắn của Đảng trở thành hiện thực, cần có biện pháp khắc phục những tồn tại trong việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông hiện nay. 


Hệ thống kết cấu hạ tầng và hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông 

Về hệ thống kết cấu hạ tầng và vai trò của nhà nước 

Hệ thống kết cấu hạ tầng là toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của một quốc gia từ kinh tế - xã hội cho đến bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ môi trường và phục vụ đời sống nhân dân. Cụ thể hơn, hệ thống kết cấu hạ tầng thường được chia thành 2 loại: hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế (bao gồm: hệ thống giao thông vận tải, thủy lợi, cấp thoát nước, điện, khí, viễn thông,…) và hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội (bao gồm: trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa, nghiên cứu khoa học, công trình công cộng, nhà ở, công trình bảo vệ môi trường...).

Nhiều chuyên gia đã cho rằng, hệ thống kết cấu hạ tầng chỉ có thể phát triển đồng bộ thông qua vai trò định hướng của nhà nước và chỉ có nhà nước mới có đủ điều kiện để điều tiết, phân bổ mọi nguồn lực của quốc gia trong việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Theo một số nhà nghiên cứu, ngay cả những người theo trường phái tự do về kinh tế, không ủng hộ nhà nước can thiệp vào kinh tế, cũng nhấn mạnh vai trò kinh tế của nhà nước trong việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Họ còn đề cao vai trò kinh tế của nhà nước trong việc tạo môi trường thuận lợi cho sự làm giàu thông qua việc nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp đứng ra xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông.

Về hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông 

Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông là một bộ phận chủ yếu của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, là cơ sở quan trọng để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và là cầu nối giúp một quốc gia hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông phát triển sẽ là chất xúc tác giúp cho các hoạt động của nền kinh tế quốc gia đó phát triển nhanh.

Cụ thể hơn, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông bao gồm toàn bộ các công trình của đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng hải, hàng không, các trung tâm logistics, như bến xe, bãi đỗ xe, hành lang an toàn, bến tàu, nhà ga, cảng biển, sân bay, khu hậu cần sau cảng… 

Hiện trạng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam 

Một số kết quả đạt được 

Trong những năm gần đây, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở nước ta đã được nâng cấp, góp phần nâng cao tốc độ khai thác trên các tuyến đường bộ; rút ngắn thời gian trên các tuyến đường sắt, đường sông; tăng lượng hàng hóa thông qua các cảng biển; tăng lưu lượng hành khách và hàng hóa thông qua các cảng hàng không. Giao thông đô thị được mở mang một bước. Giao thông địa phương phát triển góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn rộng lớn. 

Về kết cấu hạ tầng đường bộ, cơ bản đã hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp hệ thống quốc lộ chính, gồm: Trục dọc Bắc - Nam (quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh - giai đoạn 1); hệ thống quốc lộ hướng tâm (các quốc lộ 2, 3, 5, 6, 32, 13, 51, 22, xuyên Á...); hệ thống đường vành đai biên giới phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ (các quốc lộ: 279, 4A, 4B, 14, 14C - giai đoạn 1, N2 - Đức Hòa - Thạnh Hóa, N1 - Châu Đốc - Tịnh Biên); các tuyến quốc lộ nối đến các cửa khẩu quốc tế; các vùng kinh tế trọng điểm...; hệ thống đường cao tốc đang được triển khai xây dựng. 

Về kết cấu hạ tầng đường sắt, đã từng bước nâng cấp, hiện đại hóa các tuyến đường sắt hiện có, triển khai dự án đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân và nghiên cứu xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Mật độ đường sắt nước ta là 0,8km/100km2, trong đó đường sắt Bắc - Nam dài 1.726km, tuyến Hà Nội - Lào Cai: 230km, Hà Nội - Hải Phòng: 100km. Hai tuyến đường sắt quốc tế là Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh và Hà Nội - Đồng Đăng - Bắc Kinh. 

Về kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thủy phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh - Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh - Kiên Lương); vận tải đường thủy phục vụ thủy điện Sơn La, tuyến vận tải đường thủy Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên, đang triển khai luồng cho tàu biển có tải trọng lớn vào sông Hậu, kênh Chợ Gạo...

Về kết cấu hạ tầng hàng hải, đã hoàn thành nâng cấp giai đoạn một các cảng biển tổng hợp quốc gia chủ yếu, như cảng Cái Lân, cảng Hải Phòng, cảng Cửa Lò, cảng Vũng Áng, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn, cảng Nha Trang, cảng Sài Gòn, cảng Cần Thơ và hoàn thành nâng cấp một số cảng địa phương cần thiết đáp ứng lượng hàng hóa thông qua. Đang triển khai cảng quốc tế Cái Mép - Thị Vải, chuẩn bị triển khai cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, cảng trung chuyển Vân Phong… 

Về kết cấu hạ tầng hàng không, đã cải tạo, nâng cấp các cảng hàng không quốc tế: Nội Bài, Tân Sơn Nhất; các cảng hàng không nội địa: Cam Ranh, Phú Bài, Phù Cát, Côn Sơn, Vinh, Điện Biên Phủ, Plây-ku, Đồng Hới, Liên Khương, Cần Thơ (giai đoạn 1). Đang triển khai nhà ga hành khách cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, kéo dài đường cất cánh, hạ cánh 35R-17L cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, nhà ga T2 cảng hàng không quốc tế Nội Bài...

Một số công trình kết cấu hạ tầng giao thông đã được xây dựng bằng nguồn vốn ngoài ngân sách. Tính đến nay, chỉ có khoảng trên 90 dự án (bao gồm 9 dự án có vốn đầu tư nước ngoài) đầu tư dưới hình thức BOT, BT, hoặc các hình thức tương tự, với tổng vốn đăng ký đạt 7,1 tỉ USD, trong đó các dự án công trình giao thông chiếm 70% về số lượng dự án và 95% về vốn đầu tư. Các dự án trong ngành giao thông thường được lựa chọn thực hiện theo hình thức BOT hoặc BT, tập trung vào các dự án đường bộ. Nhiều dự án BOT đã và đang được triển khai, như đường ô-tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cầu Rạch Miễu, cầu Cá May (trên quốc lộ 51)... Đối với hình thức BT cũng có nhiều dự án giao thông lớn, như đường trục phía bắc Hà Đông, đường trục phía nam Hà Tây (cũ)... Đặc biệt, hiện đã có 50km đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương được đưa vào khai thác, sử dụng... 

Những hạn chế, yếu kém.

Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam có quy mô nhỏ bé, hầu hết chưa đạt chuẩn kỹ thuật, chưa tạo được sự kết nối liên hoàn. Mạng đường đô thị ở các thành phố lớn chưa được quy hoạch kết nối với mạng giao thông chung của quốc gia, còn thiếu cảng nước sâu và đường cao tốc đủ tiêu chuẩn. So với các nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của nước ta chỉ ở mức dưới trung bình.

Trên thực tế, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam đang là một trở lực lớn cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước. Điều này được thể hiện qua các mặt sau:

Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông còn thiếu, đầu tư dàn trải. Theo đánh giá độc lập của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2009, Việt Nam xếp thứ 111 trong số các quốc gia trên thế giới về chất lượng kết cấu hạ tầng giao thông, đứng sau hầu hết các nước trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, làm giảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam. 

Đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nước ta vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, tiêu chuẩn kỹ thuật ở mức thấp và lạc hậu, tốc độ phát triển chậm, thiếu đồng bộ, thiếu liên kết giữa các chuyên ngành, thậm chí trong cùng chuyên ngành; các tuyến đường liên vùng, hướng tâm, vành đai, các tuyến nối cảng biển, cảng hàng không và các cửa khẩu quốc tế chưa hoàn chỉnh; mạng đường cao tốc còn sơ khai. Tính đến nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vẫn chưa được nâng cấp đồng bộ.

Trong hệ thống giao thông đường bộ, cùng với quá trình phát triển kinh tế, đã xuất hiện nhiều “nút thắt cổ chai”, dẫn đến tình trạng ùn tắc thường xuyên, đặc biệt tại các đô thị lớn, như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; hệ thống đường giao thông ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các địa phương và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nhiều con đường xuống cấp nhưng chưa được duy tu, bảo dưỡng, bảo trì thường xuyên. 

Tuyến đường sắt Bắc - Nam đang ở vào thế độc tuyến, chưa tạo được các liên kết dạng mạng, còn thiếu những tuyến đường sắt dẫn đến các khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển... Chất lượng đường sắt hiện nay quá kém, đường sắt khổ hẹp không thể chạy tàu với tốc độ cao, giao cắt với đường ngang dân sinh nhiều, tai nạn thường xuyên xảy ra dọc tuyến. Đặc biệt, hệ thống giao thông đô thị chưa được quan tâm quy hoạch, xây dựng đúng mức.

Hệ thống cảng biển được phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng được yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu, chưa có cảng công-ten-nơ trung chuyển quốc tế. 

Hệ thống cảng hàng không đặc biệt là các cảng hàng không quốc tế quá tải, khả năng tiếp nhận hành khách thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, các chuyến bay nội địa thường bị trễ giờ. 

Chất lượng quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông chưa cao. Quy hoạch tổng thể toàn quốc và vùng chưa được hoàn thiện để làm cơ sở cho quy hoạch kết cấu hạ tầng kinh tế thiết yếu; thiếu sự kết nối tạo nên tổng thể cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước. Chất lượng các chiến lược, quy hoạch phát triển chưa bảo đảm, thiếu đồng bộ, tính khả thi thấp. Công tác quản lý sau quy hoạch yếu, thiếu sự chỉ đạo tập trung, sự phân công, phối hợp chưa ăn khớp. Quỹ đất dành cho giao thông đô thị thấp. Công tác giải phóng mặt bằng chậm, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và làm tăng chi phí đầu tư.

Nguồn vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng còn thiếu và chưa hợp lý. Mặc dù thiếu vốn nhưng chi phí đầu tư cho các công trình, nhất là công trình giao thông khá lớn, song hiệu quả kinh tế - xã hội chưa cao. Nguồn vốn đầu tư hằng năm và việc phân bổ nguồn vốn này cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn chế, chủ yếu vẫn dựa vào nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Chưa có cơ chế chính sách thuận lợi, minh bạch để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, tư nhân trong nước tham gia xây dựng các dự án giao thông. Việc huy động vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, các nhà tài trợ để cung cấp vốn cho các dự án mất nhiều thời gian trong khi các quy định về hình thức hợp tác đầu tư giữa Nhà nước và tư nhân (PPP) vừa mới hình thành. 

Triển khai dự án chậm, năng lực quản lý hạn chế. Chưa minh bạch cả từ phía chính quyền, chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu. Vấn đề đền bù, giải tỏa, thu hồi đất, phương pháp, cách thức tiến hành còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Công tác bảo hành, bảo trì và sửa chữa thiếu kinh phí, chưa được coi trọng đúng mức... 

Một số cơ chế chính sách và nhiệm vụ chủ yếu nhằm tạo bước đột phá cho hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam hiện nay

Thông qua việc đánh giá hiện trạng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của đất nước trong 10 năm qua, Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ trọng tâm phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015 là “Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế”, và “từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại”, trong đó có kết cấu hạ tầng giao thông để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Nhiệm vụ đột phá này trong 5 năm tới được Báo cáo chính trị chỉ rõ là “Hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng cả nước... Hoàn thiện cơ bản mạng lưới giao thông thiết yếu, đường ven biển, đường vành đai biên giới. Hiện đại hóa một số sân bay, cảng biển quan trọng và một số tuyến đường bộ trọng yếu nối kết với Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia…”(1)

Để cụ thể hóa chủ trương, đường lối trong Nghị quyết của Đảng, nhằm thực hiện tốt đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, đến nay, nhiều chính sách của Nhà nước đã và đang được nghiên cứu hoàn thiện và triển khai theo hướng thay đổi cách tiếp cận từ khâu quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên đến phương thức huy động, phân bổ nguồn lực và thủ tục triển khai dự án, đặc biệt là sớm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, xây dựng, cơ chế, chính sách về tài chính, huy động nguồn vốn, đấu thầu, giải phóng mặt bằng. 

Hiện nay, một số nhiệm vụ chủ yếu nhằm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở nước ta trong thời gian tới đã và đang được Bộ Giao thông vận tải dự kiến triển khai theo hướng:

Tập trung đầu tư tuyến đường bộ Bắc - Nam. Ưu tiên phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, đường hàng hải, đường hàng không) ở những vùng có dung lượng hàng hóa lớn, các địa bàn thuộc các cực tăng trưởng, kết nối với các vùng miền, với khu vực và quốc tế, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh để thúc đẩy tăng trưởng của cả nước. 

Hiện đại hóa và nâng cao năng lực các dịch vụ tổng hợp của 3 cảng biển lớn ở 3 khu vực: Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu và miền Trung. Qua việc nâng cao năng lực các dịch vụ tổng hợp, hình thành các trung tâm kinh tế biển lớn. Gắn việc phát triển kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn với Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai. 

Tập trung nâng cấp, phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng ở các đô thị lớn gắn với bố trí, cơ cấu lại sản xuất và phân bố dân cư. Phát triển nhanh hệ thống giao thông đô thị, nhất là giao thông công cộng. Sớm giải quyết nạn ùn tắc và úng ngập ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Một số kiến nghị

Thứ nhất, sự phối hợp giữa các bộ, ngành. Để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) dự kiến vào tháng 12-2011 bàn về Đề án “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, cần chỉ đạo các cơ quan quản lý về giao thông, vận tải phối hợp với các cơ quan có liên quan, như tài chính, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên - môi trường, các hiệp hội, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng và ủy ban nhân dân các địa phương tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề về kết cấu hạ tầng giao thông để làm rõ hơn những khó khăn, vướng mắc hiện nay, qua đó kiến nghị những giải pháp và cơ chế, chính sách nhằm tạo đột phá trong việc đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. 

Ngay trong những năm đầu của Kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, cần chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tập trung tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là “xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, nhất là hệ thống giao thông, yếu tố đang gây ách tắc, cản trở sự phát triển kinh tế, gây bức xúc trong nhân dân”. 

Thứ hai, về quy hoạch. Bộ Giao thông vận tải cần phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương có liên quan nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông cả nước. Đây là một nội dung quan trọng, là tiền đề trong việc xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và là một nhiệm vụ cụ thể của việc hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng cả nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Thứ ba, về cách thức đầu tư. Cần nghiêm túc thực hiện đúng nội dung tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là “Phát triển có trọng tâm, trọng điểm và đầu tư tập trung, dứt điểm, kiên quyết hoàn thành những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt theo hướng hiện đại và tương đối đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, các khu công nghệ cao, các khu công nghiệp, khu kinh tế” (2).

Cần có danh mục dự án đầu tư phù hợp, xác định rõ thứ tự ưu tiên của các dự án được lựa chọn để tập trung đầu tư, hiện đại hóa, bảo đảm chất lượng để các công trình của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông được nhanh chóng đi vào khai thác có hiệu quả. 

Thứ tư, có chính sách ưu tiên cho phát triển đường sắt và đường thủy. Trong thời gian tới, dưới góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội, cần có chính sách cụ thể, ưu tiên cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt, đường thủy nội địa. Việc tập trung nguồn vốn đầu tư quá nhiều cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trong 10 năm vừa qua (theo Báo cáo của Bộ Giao thông vận tải, chiếm tỷ trọng lên đến 87,6%) cũng có thể là một nguyên nhân gây ra tình trạng tai nạn giao thông đường bộ đang gia tăng hiện nay./.
------------------------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 200 (2) Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, tr. 200
Nguyễn Hồng Sơn Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương Đảng

VIDEO