Nghiên cứu - Trao đổi
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng qua 25 năm đổi mới
19:26' 1/9/2011
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ, coi trọng bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.


1. Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã quyết định đường lối đổi mới toàn diện: đổi mới các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế; đổi mới chính sách xã hội nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân; đổi mới chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh; đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị và sự lãnh đạo của Đảng. Đó là nội dung căn bản của xây dựng Đảng về chính trị bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đưa đất nước ngày càng phát triển. Đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển, được cụ thể hóa, thể chế hóa bằng hệ thống các chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Một trong những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền là sai lầm trong đường lối dẫn đến chệch hướng. Giữa lúc các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện dẫn tới thay đổi thể chế chính trị ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra 5 nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, ý thức trách nhiệm công dân, dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Những nguyên tắc đó thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng, bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới phát triển đúng hướng và đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội VII của Đảng (6-1991) là bước phát triển mới rất quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị. Cương lĩnh nêu rõ 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trải qua 20 năm thực hiện đã khẳng định tính đúng đắn và hiện thực của Cương lĩnh đó. Đại hội XI của Đảng đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 làm rõ hơn đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và những vấn đề của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Xây dựng Đảng về chính trị đòi hỏi không ngừng rèn luyện về bản lĩnh chính trị. Đó là sự kiên định mục tiêu, con đường đã lựa chọn gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; là chủ động, quyết tâm đưa sự nghiệp cách mạng và đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội để đẩy lùi nguy cơ; là nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đường lối, chính sách và từng bước đi cụ thể; là sự thẳng thắn tự phê bình trước những khuyết điểm, yếu kém và quyết tâm khắc phục, sửa chữa và nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, nhân dân.

2. Sự nghiệp đổi mới được khởi động bởi quá trình khảo nghiệm thực tế từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX và được thúc đẩy của quá trình đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn các quy luật khách quan, những đặc điểm, đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới là sản phẩm của tư duy mới, của quá trình xây dựng Đảng về tư tưởng và lý luận. Đại hội VI của Đảng cho rằng: "Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên"(1).

Đại hội VII của Đảng (6-1991), trong hoàn cảnh quốc tế phức tạp, khủng hoảng lý luận ở nhiều đảng cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống và sâu sắc. Ngày 28-3-1992 Bộ Chính trị (khóa VI) ra Nghị quyết số 01-NQ/TW về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận một cách sáng tạo, làm sáng tỏ hơn nữa căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng mô hình về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Khẳng định và làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nghiên cứu toàn diện, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu một cách khách quan, biện chứng những học thuyết khác ngoài chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội, giáo điều. Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của 70 năm chủ nghĩa xã hội hiện thực. Phát triển và hoàn chỉnh những luận cứ khoa học về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu sâu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Làm rõ những quan điểm về đổi mới hệ thống chính trị. Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Công tác tư tưởng lý luận được đẩy mạnh gắn liền với đổi mới chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận trong toàn Đảng, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt. Mỗi bước phát triển và thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới gắn liền với kết quả của công tác tư tưởng, lý luận. Ngày 18-2-1995 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay. Nghị quyết khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Chế độ ta là chế độ do nhân dân lao động làm chủ; Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội. Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Những nội dung cơ bản về tư tưởng và lý luận nêu trên đã từng bước được hiện thực hóa và có vai trò rất quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới. Công tác tư tưởng, lý luận đã được Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (1-8-2007) đánh giá cả những thành công và những hạn chế. Trung ương Đảng nhấn mạnh những nội dung chủ yếu của công tác lý luận. Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, những vấn đề cần bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại; đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, nhà nước pháp quyền và quyền làm chủ của nhân dân, về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Các vấn đề lý luận và thực tiễn về chiến lược bảo vệ Tổ quốc và chính sách đối ngoại: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của thời đại và của thế giới đương đại. Trên thực tế, trình độ lý luận, trí tuệ của Đảng, của cán bộ, đảng viên đã được nâng cao, công tác tư tưởng, lý luận được coi trọng, tăng cường và đạt được kết quả đáng kể.

...Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ chủ trương tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận. Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới không ngừng phát triển lý luận, khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận chính trị. Mọi đảng viên có trách nhiệm làm công tác tư tưởng.

3. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tổ chức được tăng cường theo hướng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ gắn liền với rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, coi trọng bảo vệ chính trị nội bộ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (6-1992) đã nhấn mạnh nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng về tổ chức. Thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, ngăn chặn và khắc phục tệ vô tổ chức, vô kỷ luật, độc đoán, chuyên quyền trong Đảng.

Bước phát triển quan trọng trong xây dựng Đảng về tổ chức là Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (6-1997) đề ra Chiến lược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chiến lược đã nêu rõ tiêu chuẩn chung của cán bộ và tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ lãnh đạo, Đảng, Nhà nước, đoàn thể, cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang, cán bộ khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý kinh doanh. Thực tiễn của quá trình thực hiện chiến lược cán bộ cho thấy sự cần thiết phải triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ.

Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2-2009) đã tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược cán bộ và chủ trương tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020. Trung ương Đảng cho rằng: "Đội ngũ cán bộ nước ta có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Số đông cán bộ giữ được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân", "công tác cán bộ đã bám sát nhiệm vụ chính trị, thể chế hóa, cụ thể hóa được nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn đề ra trong cương lĩnh". Tuy nhiên, nhiều yếu kém, khuyết điểm trong công tác cán bộ chậm được khắc phục. Đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt yếu. "Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác rèn luyện, phấn đấu, thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chậm có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn và kịp thời xử lý, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ"(2). Trung ương chủ trương tiếp tục thực hiện chiến lược cán bộ với những nhiệm vụ và giải pháp lớn.

Chỉnh đốn Đảng về tổ chức đòi hỏi phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đặt ra. Trong quá trình đổi mới, bị tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng cộng sản, sa vào tham nhũng, lãng phí. Trung ương Đảng, trong nhiều nghị quyết đã nhấn mạnh yêu cầu đức và tài đối với cán bộ, đảng viên, trong đó đức là gốc. Đảng đã mở cuộc vận động lớn "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" từ ngày 3-2-2007. Cuộc vận động được coi là sự kiện chính trị nổi bật, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hưởng ứng và đã ảnh hưởng lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngày 12-12-2010 Trung ương Đảng đã tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động và tiếp tục thực hiện với những nội dung và phương pháp thiết thực, hiệu quả.

4. Đổi mới phương thức lãnh đạo là nội dung lớn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Đại hội VI của Đảng tổng kết bài học lấy dân làm gốc, nắm vững và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan, luôn luôn phải xuất phát từ thực tiễn với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Đó là sự đổi mới quan trọng trong phương thức lãnh đạo, phong cách làm việc của Đảng. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo dựa trên nguyên tắc chỉ đạo: dân chủ gắn liền với tập trung, với kỷ cương, kỷ luật, pháp luật, dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ. Chú trọng phát huy dân chủ trong Đảng. Đại hội X của Đảng (4-2006) nhấn mạnh các nguyên tắc tổ chức cơ bản trong hoạt động lãnh đạo của Đảng: nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh; tự phê bình và phê bình; đoàn kết trên cơ sở cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng; giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Khi đã có cương lĩnh đường lối chính trị đúng đắn, phương thức lãnh đạo phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (7-2007) đã nêu rõ: "Đảng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng và ý nghĩa, tầm quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng"(3). Trung ương Đảng cho rằng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều đổi mới và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng cấp ủy bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị trên một số lĩnh vực. Chậm ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; về mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng; phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội; phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm.

Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các phương pháp, hình thức mà tổ chức Đảng với tư cách chủ thể lãnh đạo sử dụng để tác động tới đối tượng lãnh đạo là Nhà nước, hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân nhằm đạt được mục đích, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Phương thức lãnh đạo không thể không tuân thủ theo những quy định, quy trình mang tính khoa học và hiện thực. Phải bắt đầu từ sự nắm vững lý luận, quy luật, thực tiễn của đất nước để hoạch định đường lối, chính sách, đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể. Thực hiện tốt quy trình ra nghị quyết, quyết định một cách đúng đắn. Phải tiến hành công tác tổ chức thực tiễn một cách năng động, sáng tạo để hiện thực hóa đường lối chủ trương. Tổ chức tốt công tác vận động quần chúng, phát huy vai trò của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc. Đảng coi trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng và thường xuyên tổ chức tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển đường lối, chính sách cho thích hợp. Thường xuyên liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến, sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân, bàn bạc với nhân dân, tuyên truyền, giải thích cho dân phát huy dân chủ, quyền làm chủ thật sự của nhân dân.

5. Một trong những đổi mới quan trọng trong xây dựng Đảng là làm rõ bản chất và vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đã là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng và vai trò lãnh tụ chính trị của dân tộc đã được khẳng định ngay từ đầu, và vì vậy, cũng ngay từ đầu Đảng trở thành đội tiên phong lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn lãnh đạo đấu tranh cách mạng, tại Đại hội II của Đảng (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam"(4). Tổng kết lịch sử công tác xây dựng Đảng, nhất là qua công cuộc đổi mới, Đại hội X của Đảng (4-2006) nêu rõ bản chất của Đảng: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc"(5)./.

_____________________

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t 47, tr 361

(2) Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 270-271

(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 107

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 6, tr 175

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 130


PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo

VIDEO