Nghiên cứu - Trao đổi
20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 của Đảng về công tác an ninh - thành công và bài học kinh nghiệm
11:33' 2/12/2010


TCCSĐT - Năm 1991, trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu tan rã, Liên Xô đứng trước sự sụp đổ, song Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Cương lĩnh 1991 - TG). Điều này thể hiện rõ bản lĩnh chính trị kiên cường, sự kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là tiến lên CNXH.

Trong 20 năm qua, tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức nhanh chóng, biến động phức tạp; trong nước xuất hiện rất nhiều vấn đề mới. Trong quá trình đó, Đảng đã từng bước nhận thức đúng đắn và giải quyết có hiệu quả các vấn đề đó trên cơ sở quan điểm, đường lối đã được xác định trong Cương lĩnh 1991. Sau 25 năm, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo và đang đứng trước yêu cầu phát triển mới.

Trong tiến trình lãnh đạo đổi mới, những quan điểm, định hướng chính sách về công tác an ninh được Đảng nhận thức ngày càng sáng tỏ, từng bước làm rõ, bổ sung, phát triển kịp thời qua các nhiệm kỳ đại hội, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH trong mỗi giai đoạn cách mạng. Khái niệm “An ninh” trong Cương lĩnh 1991 được nhận thức ngày càng rõ qua hoạt động thực tiễn, bao gồm 2 lĩnh vực cơ bản là bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và các nhân tố liên quan đến ANQG cả trong nước và quốc tế, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, công nghệ, quốc phòng, đối ngoại; công tác xây dựng lực lượng công an nhân dân được tăng cường cả về số lượng, chất lượng. Qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 của Đảng về công tác an ninh, trên phương diện lý luận và thực tiễn đều đạt được những thành công to lớn, có ý nghĩa quan trọng.

Một là, Nhận thức về công tác an ninh có những đổi mới quan trọng.

Từ sau Đại hội lần thứ VII đến nay, Đảng ta đã từng bước nhận thức đầy đủ và làm rõ hơn nội dung các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác an ninh và có sự phát triển mới về cả nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Những nhận thức đó được cụ thể hoá và thực tiễn hoá trong nhiều nghị quyết quan trọng, như: Nghị quyết Trung ương 3 khoá VII (1992) về nhiệm vụ quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, chống diễn biến hòa bình; Nghị quyết số 08-NQ/TW (1998) của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh quốc gia, Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX (2003) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 40-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị về Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác công an trong tình hình mới; Chỉ thị số 05-CT/TW (2006) của Bộ Chính trị về Tăng cường lãnh đạo công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới...

Tư duy mới về công tác an ninh của Đảng được hình thành. Trước hết, nhận thức ngày càng sáng tỏ, đúng đắn, đầy đủ và có hệ thống về tình hình tác động đến công tác an ninh, các nguy cơ thách thức nền an ninh quốc gia của Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XX, sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với Việt Nam và tranh giành lợi ích ở khu vực Đông Nam Á diễn ra phức tạp, bước sang thế kỷ XXI, tình hình khu vực cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, trong đó nổi lên các vấn đề mới như: hành động khủng bố quốc tế, khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, các bất ổn về chính trị, tranh chấp biển đảo, tài nguyên giữa một số nước trong khu vực; xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo ở một số nước tiềm ẩn nguy cơ đe doạ an ninh khu vực... Điều đó đặt ra những thời cơ thuận lợi, song cũng tác động tiêu cực đến tình hình an ninh của Việt Nam. Ở trong nước, bên cạnh sự phát triển vượt bậc của công cuộc đổi mới, tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta, là cơ sở đảm bảo vững chắc cho an ninh quốc gia, nhưng cũng xuất hiện nhiều nguy cơ, thách thức mới, đáng chú ý là nguy cơ diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch gây ra, nguy cơ tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ đảng viên và các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Cách mạng nước ta đứng trước không ít những khó khăn, thách thức mới phải đối mặt với các vấn đề an ninh phi truyền thống, xu thế công khai hóa, dân chủ hóa, quốc tế hóa ngày càng sâu rộng, cùng với sự tham gia ngày càng tích cực của Việt Nam vào các thể chế kinh tế quốc tế và khu vực .

Hình thành quan niệm mới về đối tác, đối tượng, về đối tượng đấu tranh của công tác an ninh mang tính khoa học và nhất quán. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, tư duy bạn - thù được phân biệt rạch ròi, mang ý thức hệ tư tưởng đối kháng giai cấp và sự đối lập giữa hai hệ thống (hai phe). Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII, Nghị quyết Trung ương 8, khoá IX Đảng ta đã ghi nhận sự chuyển biến quan trọng trong tư duy về đối tượng của công tác an ninh, bao gồm đối tượng đấu tranh truyền thống và đối tượng phi truyền thống; hình thành tư duy mới về “đối tác, đối tượng”, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau và chuyển hoá lẫn nhau. Tư duy mới về quan hệ quốc tế là sự tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau; là vừa hợp tác vừa đấu tranh, cùng tồn tại trong hòa bình và phát triển; cách thức quan hệ là vừa đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, vừa tăng cường hợp tác, liên kết về chiều sâu với từng nước và trong từng khu vực.

Mục tiêu, nhiệm vụ công tác an ninh được phát triển về nội hàm với những nội dung mới ngày càng hoàn thiện. Đã làm sáng tỏ và nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, vị trí của nhiệm vụ công tác an ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hình thành hệ thống quan điểm tương đối đồng bộ, nhất quán về mục tiêu, nhiệm vụ công tác an ninh cùng với hệ thống các chủ trương, chính sách, giải pháp và phương thức, phương pháp, biện pháp thực hiện nhiệm vụ an ninh đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh trong bối cảnh mới. Mục tiêu, nhiệm vụ an ninh gắn chặt với quốc phòng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc với nội hàm được xác định đầy đủ hơn là: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc XHCN; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tương - văn hoá, an ninh xã hội; bảo vệ nền văn hoá, duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ. Trong đó thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ nền văn hoá dân tộc; bảo vệ ANQG gắn chặt với bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ công cuộc đổi mới, mà bao trùm là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Hình thành khái niệm "An ninh chủ động", chủ động ngăn ngừa, giữ vững bên trong nội bộ, nội địa trên mọi lĩnh vực, địa bàn, không để bị động, bất ngờ; chủ động phát hiện, tích cực tấn công trong mọi tình huống. Nhiệm vụ trung tâm của công tác an ninh xuất phát và phục vụ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực, góp phần xây dựng và bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, làm giảm sự thù địch, thúc đẩy xu thế hoà bình phát triển, hội nhập, giữ vững môi trường hoà bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định cùng phát triển giữa các nước trong khu vực và trên thế giới.

Hệ thống quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ an ninh được bổ sung, phát triển đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Khẳng định và nhấn mạnh: sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp thế trận QPTD với thế trận ANND sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định. Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi. Công tác an ninh đã bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính tả của Đảng và Nhà nước, sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó lấy biện pháp chính trị, vận động quần chúng là chủ yếu, lấy lực lượng CAND làm nòng cốt.

Hai là, Các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nhiệm vụ công tác an ninh được từng bước thể chế hoá, luật hoá ngày càng hoàn thiện hơn.

Sau khi Cương lĩnh 1991 ra đời, Nhà nước thông qua Hiến pháp 1992 đã kịp thời thể chế hoá, luật hoá một bước các quan điểm, định hướng chính sách lớn của Cương lĩnh. Hiến pháp năm 1992, được bổ sung, sửa đổi năm 2001, 2005 thể chế hoá mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trong đó khẳng định: nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đều xử lý nghiêm theo pháp luật. Chương IV, Hiến pháp năm 1992 đã luật hoá nhiệm vụ Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bộ luật hình sự 1999, Luật Điều tra hình sự, Luật thi hành án phạt tù, Luật phòng chống ma tuý, Luật an ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân và nhiều văn bản mang tính pháp quy, Nghị định có liên quan khác đã luật hóa, cụ thể hoá về đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự. Đặc biệt để triển khai các quan điểm chỉ đạo mới của Đảng về công tác an ninh, các cơ quan đơn vị chức năng của ngành công an đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành có liên quan kịp thời xây dựng và triển khai thực hiện nhiều đề án đảm bảo an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn, vùng chiến lược trọng điểm; đã ban hành và thực thi các Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, nhiều đề án phòng, chống tệ nạn xã hội phù hợp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn.

Ba là, Việc tổ chức thực hiện Cương lĩnh 1991 trên lĩnh vực công tác an ninh của lực lượng CAND đạt kết quả to lớn, có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt.

Tư tưởng chỉ đạo, định hướng của Cương lĩnh 1991 trên lĩnh vực an ninh về cơ bản còn nguyên giá trị trên nhiều nội dung quan trọng. Các quan điểm, định hướng chính sách về công tác an ninh của Cương lĩnh đã được quán triệt, nhận thức và thực thi đầy đủ, kịp thời. Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành thống nhất của Nhà nước đối với các mặt hoạt động trên lĩnh vực an ninh. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững chế độ XHCN, sự ổn định chính trị - xã hội, môi trường hoà bình, hợp tác, phát triển, đảm bảo vững chắc ANQG và TTATXH, không để bị động bất ngờ về chiến lược.

Lực lượng CAND đã làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ và phối hợp với các ban, ngành chức năng thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH. Phối hợp tốt với các Ban của Đảng, các Bộ, Ngành Trung ương, Tỉnh uỷ, Thành uỷ lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các Chỉ thị, Quy định của Trung ương về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ các công trình trọng điểm liên quan đến ANQG và các Quy định về phòng ngừa, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc nội bộ.

Công tác đấu tranh chống phản động được đặc biệt coi trọng, đã phát hiện, đấu tranh và vô hiệu hoá nhiều âm mưu, hoạt động chống phá, khủng bố của chúng trong nội địa, không để đột xuất, bất ngờ. Kịp thời đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 25 (2007) về “Công tác phòng, chống khủng bố trong tình hình mới” đồng thời chủ động ngăn ngừa, triển khai diễn tập các tình huống khủng bố có thể xảy ra. Đặc biệt, đã phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các tổ chức phản động người Việt lưu vong. Kiềm toả hoạt động liên kết trong - ngoài, đấu tranh không để số đối tượng chống đối cực đoan thực hiện ý đồ hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nội địa. Đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại các hoạt động cổ xuý, kích động số đối tượng cực đoan chống chính quyền; vô hiệu hoá các hoạt động kích động biểu tình, bạo loạn. Phối hợp đấu tranh làm thất bại nhiều "chiến dịch" phá hoại tư tưởng của bọn phản động người Việt lưu vong kết hợp với các trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài tuyên truyền, xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần củng cố thêm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng

Trong quá trình hội nhập quốc tế việc tăng cường mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh, phòng chống tội phạm đã góp phần tích cực củng cố môi trường quốc tế thuận lợi cho công tác an ninh. Xử lý đúng đắn các mối quan hệ đối tác - đối tượng nhằm đạt mục tiêu hàng đầu là giữ vững hoà bình, ổn định để phát triển, nâng cao vị thế đất nước và uy tín của lực lượng CAND; chủ động ngăn ngừa từ xa các hoạt động lợi dụng quan hệ đối ngoại để xâm phạm ANQG; đi đôi với việc ngăn ngừa các hoạt động tình báo, gián điệp, thâm nhập vào nội bộ và nội địa ta. Thiết lập, củng cố phòng tuyến bảo vệ an ninh quốc gia, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và tạo ra sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự hợp tác phát triển, thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình và hữu nghị của Đảng và Nhà nước. Mặt khác còn góp phần hoạch định đúng đắn các chủ trương, chính sách, chủ động phương án, kế hoạch xử lý các vấn đề liên quan đến ANQG.

Nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn xã hội được tiên hành thường xuyên, huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông qua công tác chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện sâu rộng các chương trình quốc gia, biện pháp tích cực phòng, chống tội phạm trên địa bàn cả nước đã góp phần kiềm chế làm giảm thiểu sự gia tăng của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội và các điều kiện phát sinh tội phạm; trật tự an toàn xã hội trên nhiều mặt có những chuyển biến tích cực. Tiến hành nhiều kế hoạch, chiến dịch triệt phá hàng nghìn băng, ổ nhóm tội phạm nguy hiểm có tổ chức, tội phạm ma túy, tội phạm xuyên quốc gia. Phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm mới sử dụng công nghệ cao...

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát triển sâu rộng tạo nền tảng củng cố nền ANND và thêm trận ANND trên địa bàn toàn quốc. Từng bước kết hợp thế trận ANND với thế trận QPTD trên các địa bàn chiến lược. Huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân trong xử lý các tình huống phức tạp về ANTT, đặc biệt là trong giải quyết các vụ việc phức tạp có liên quan đến tôn giáo, dân tộc, nông dân, nông thôn. Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm ngày càng vững mạnh. Nhiều mô hình điển hình tiên tiến, thiết thực trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được nhân rộng đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng có hiệu quả hơn vào công tác phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật và giữ gìn trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ ở địa bàn cơ sở.

Kết hợp công tác an ninh với phát triển kinh tế - xã hội phối hợp hoạt động của lực lượng CAND với các lực lượng khác trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm đạt kết quả tốt. Lực lượng CAND trong những năm qua đã góp phần tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ hoạch định nhiều chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội, gắn nhiệm vụ quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tăng cường công tác đảm bảo an ninh phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là lĩnh vực an ninh tài chính, tiền tệ trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tham mưu cho Nhà nước, Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp quy tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh kinh tế - tài chính, xác định đối tác, đối tượng; thẩm định nhiều dự án kinh tế trọng điểm. Xây dựng, triển khai các đề án đảm bảo ANTT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng kinh tế trọng điểm. Nắm chắc tình hình về các yếu tố có thể gây mất ổn định về kinh tế, kiến nghị, đề xuất cho Đảng, Nhà nước có biện pháp chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán... phục vụ tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Xây dựng lực lượng CAND trong sạch, vững mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đảm bảo giữ vững ANQG trong mọi tình huống. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân đạt được nhiều kết quả tích cực. Lực lượng CAND có vị thế ngày càng cao, trưởng thành về số lượng, nâng cao về chất lượng; chức năng nhiệm vụ được xác định và khẳng định rõ trong thực tiễn, đóng vai trò quan trọng tham mưu cho Đảng Nhà nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ ANQG vv..

Từ thực tiễn quán triệt và tổ chức thực hiện Cương lĩnh 1991 về công tác an ninh, trật tự có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu:

Một là, Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng và làm rõ nội hàm quan điểm những vấn đề lý luận, tư tưởng cơ bản nêu ra trong Cương lĩnh, để vạch ra định hướng chính sách, đối sách đúng đắn và vận dụng sát hợp vào thực tiễn công tác bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đề cao quyết tâm chính trị trong việc quán triệt, thực hiện thành công Cương lĩnh của Đảng về công tác an ninh.

Hai là, Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, cụ thể hoá và phát triển các nội dung định hướng của Cương lĩnh về công tác an ninh phải gắn liền và đi đôi với việc thể chế hoá, pháp luật hoá các quan điểm của Đảng thành các văn bản luật pháp, các văn bản pháp quy khác của Nhà nước, Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan.

Ba là, Quan tâm xây dựng đồng bộ, có hệ thống từ quan điểm, đường lối, chủ trương, khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách, nguồn lực để triển khai thực hiện Cương lĩnh của Đảng trên lĩnh vực công tác an ninh, nhất là hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện, các quy chế phối hợp, quy định về chế độ công tác, kế hoạch triển khai và phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các lực lượng tham gia nhiệm vụ công tác bảo vệ ANQG theo pháp luật định.

Bốn là, Thường xuyên coi trọng công tác nắm bắt, phân tích, đánh giá thông tin, dự báo chính xác, kịp thời tình hình cả bên trong, bên ngoài tác động đến lĩnh vực công tác an ninh đi đôi với nâng cao chất lượng, hàm lượng khoa học công tác nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn các mặt hoạt động của công tác an ninh trong từng giai đoạn cách mạng.

Năm là, Thường xuyên tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và các cấp uỷ đảng trong CAND, đồng thời nâng cao hiệu quả, trách nhiệm hoạt động quản lý nhà nước của các cấp chính quyền, vai trò làm chủ của nhân dân và các đoàn thể quần chúng trong việc chỉ đạo quán triệt, tổ chức, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nội dung công tác an ninh trong Cương lĩnh.

Trong thời gian tới, cần quán triệt, làm rõ một số định hướng lớn về công tác an ninh trong dự thảo Cương lĩnh 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) như sau:

Với tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI, dự thảo Cương lĩnh 201 1 đã có những nhận định đánh giá khái quát hết sức cô đọng và chỉ rõ quy luật phát triển của thời đại ngày nay là: loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đang tạo ra thế và lực mới cho cách mạng nước ta. Tuy nhiên, trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước sẽ tiếp tục có những chuyển biến hết sức sâu sắc. Các nhân tố bên trong, bên ngoài tương tác, đan xen nhau, tác động mạnh mẽ đến nhiệm vụ an ninh và tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, khó lường. Nổi lên sẽ là sự đan xen nhau giữa vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh chính trị - tư tưởng, an ninh kinh tế - tài chính - ngân hàng, an ninh nội bộ diễn biến phức tạp, trở thành các mối đe dọa chủ yếu đối với nền ANQG của Việt Nam. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và các loại tội phạm mới tiếp tục gia tăng, nhất là các loại tội phạm phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao, tội phạm khủng bố quốc tế. Xu thế toàn cầu hoá, dân chủ hoá cùng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, các vấn đề toàn cầu như đói nghèo, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng; xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền, biển đảo, nguồn tài nguyên giữa các quốc gia trong khu vực tiềm ẩn các nguy cơ, thách thức mới đối với ANQG của Việt Nam. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những “điểm nghẽn” của phát triển; những yếu kém, thiếu sót, hạn chế, những sơ hở, thiếu sót, tiêu cực trong công tác quản lý nhà nước, trong thực thi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các mâu thuẫn xung đột, tranh chấp lợi ích cục bộ giữa một bộ phận nhân dân sẽ tiếp tục tác động đa chiều, khó lường đến môi trường ANQG của Việt Nam. Vì vậy cần:

Một là, Nâng cao hơn nữa nhận thức về mục tiêu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, về mối quan hệ quốc phòng và an ninh trong điều kiện mới. An ninh, quốc phòng cần phối hợp chặt chẽ với nhau, gắn chặt với nhau trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động với mục tiêu cơ bản, bao trùm là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đảm bảo vững chắc ANQG và TTATXH trong mọi tình huống. Quốc phòng và an ninh trong thời bình, trong điều kiện mới có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tương tác, hỗ trợ tích cực lẫn nhau trong thực thi chiến lược bảo vệ ANQG. Tuy nhiên, quốc phòng và an ninh là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, có đối tượng bảo vệ, đối tượng đấu tranh cụ thể không giống nhau; có chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, phương thức, biện pháp, thủ đoạn, phương tiện hoạt động cụ thể khác nhau. Vì vậy, củng cố quốc phòng gắn liền với tăng cường công tác đảm bảo an ninh toàn diện về mọi mặt (cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống), lấy giữ vững bên trong nội địa, nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng làm gốc; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước; sức mạnh của nền an ninh nhân dân lấy ổn định chính trị - xã hội, sự đồng thuận xã hội là nhân tố quan trọng hàng đầu.

Hai là, Phát triển nhận thức mới về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và mối quan hệ an ninh, quốc phòng với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó coi trọng việc giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định, phát triển để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi trọng công tác xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ tính đúng đắn của đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, ứng phó kịp thời với các vấn đề an ninh phi truyền thống. Nêu cao tinh thần chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm khác trong và ngoài nước, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Bảo vệ ANQG trên cơ sở tận dụng và phát huy tối đa lợi thế các biện pháp theo quy định của pháp luật. Kết hợp chặt chẽ, sử dụng linh hoạt cả phương thức vũ trang và phi vũ trang; coi trọng xây dựng thế trận toàn dân bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ từ xa, từ trong nội bộ; bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH cần được tiến hành ngay từ cơ sở, ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương và tự bảo vệ trong mỗi con người, mỗi ngành, mỗi cấp. Nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền ANQG, tăng cường giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân.

Ba là, Tiếp tục xây dựng, củng cố nền ANND và thế trận ANND vững chắc gắn chặt với nền QPTD và thế trận QPTD; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN ngay trên từng vùng, từng địa bàn, nhất là các địa bàn chiến lược, trọng điểm về ANQG, biên giới, biển đảo; kết hợp chặt chẽ tăng cường quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong từng địa bàn lãnh thổ, trong chiến lược quy hoạch, trong từng chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển. Xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ chế và thiết chế thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong điều kiện mới.

Bốn là, Nâng cao vị thế, vai trò của CAND thông qua thực hiện mục tiêu: xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH. Xây dựng CAND gắn liền với thường xuyên đẩy mạnh công tác tổng kết, nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận, khoa học an ninh về mọi mặt; coi trọng tăng cường các nguồn lực cho nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh của quốc gia từng bước hiện đại; tăng cường chất lượng, chiều sâu các mối quan hệ hợp tác quốc tế và tiếp tục mở rộng hoạt động đối ngoại trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phù hợp với điều kiện mới.

Năm là, Xây dựng và vận hành thống nhất cơ chế, thiết chế để đảm bảo giữ vững tính đặc thù về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quốc phòng, an ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; đồng thời tăng cường nghiên cứu bổ sung, phát triển nhận thức mới về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo với nâng cao hiệu quả quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh và đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới./.

Bùi Văn Nam

VIDEO