Nghiên cứu - Trao đổi
Sóc Trăng với công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo
15:50' 18/7/2009


TCCSĐT - Toàn tỉnh Sóc Trăng có hơn 1,3 triệu người, trong đó tỷ lệ người dân tộc Khmer là 28,93%; người có đạo chiếm 48,55% dân số; có 25 xã, phường có tỷ lệ đồng bào dân tộc Khmer chiếm từ 50% dân số trở lên, và 8 xã có đảng viên là người dân tộc Khmer, chiếm trên 50% trong tổng số đảng viên của các xã này. Những năm qua, việc xây dựng lực lượng cán bộ cốt cán cũng như đội ngũ đảng viên là người dân tộc Khmer, người có đạo luôn được cấp uỷ các cấp của tỉnh Sóc Trăng quan tâm.

Củng cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở

Trong những năm qua, hoạt động của hệ thống chính trị của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nội dung, phương thức hoạt động được đổi mới, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ; năng lực lãnh đạo của cấp uỷ và hiệu lực quản lý của chính quyền được nâng lên; các nguồn lực được huy động để triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, từng bước đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh về đầu tư phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát huy được vai trò trong hoạt động, tạo được nhiều phong trào và thu hút được nhiều quần chúng tham gia.

Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở một số cơ sở và công tác quản lý xã hội trong tỉnh còn những mặt đáng quan tâm, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số ở các cơ sở nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số còn ít; công tác kết nạp đảng viên là người dân tộc thiểu số tuy có tăng, nhưng chưa đạt yêu cầu so với nhiệm vụ chính trị.

Công tác tuyên truyền, giáo dục đồng bào Khmer nâng cao ý thức tự lực tự cường, tập trung đẩy mạnh sản xuất, tăng cường ý thức đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tuy có chuyển biến nhưng chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể ở một số nơi chưa sâu sát, chưa gắn với lợi ích thiết thực của nhân dân, dẫn đến hạn chế kết quả thu hút, tập hợp quần chúng vào tổ chức.

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do một số cấp uỷ, chính quyền, sở, ngành nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện về công tác dân tộc, tôn giáo và nhất là công tác xây dựng hệ thống chính trị vùng có đông đồng bào Khmer.

Cơ quan tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về công tác dân tộc, tôn giáo còn có những hạn chế, dẫn đến một số chương trình, kế hoạch chậm được tổ chức thực hiện. Phương pháp, giải pháp thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo chậm được đổi mới và nghiên cứu; việc học tập kinh nghiệm của các tỉnh bạn về công tác này chưa nhiều.

Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo

Để mục tiêu kết nạp đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo đạt chất lượng và số lượng, từ thực tiễn công tác phát triển đảng viên những năm gần đây, Tỉnh ủy Sóc Trăng xác định phải làm tốt từ khâu quy hoạch tạo nguồn và tập trung chú ý động cơ vào Đảng khả năng lãnh đạo quần chúng của đối tượng kết nạp Đảng.

Cấp ủy và các chi bộ ấp, khóm, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, trường học... đã tổ chức tốt các phong trào hành động trong công tác và học tập, tạo điều kiện cho đoàn viên, hội viên, thanh niên là người Khmer, người có đạo được phấn đấu, rèn luyện. Qua đó, phát hiện những nhân tố tích cực để tạo nguồn, trên cơ sở quan tâm, chú ý đến đặc điểm của từng vùng và nhất là đặc điểm của đồng bào dân tộc Khmer, kết hợp với các tiêu chuẩn chung để vận dụng cho phù hợp, nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng.

Những cán bộ công tác ở ấp, khóm thuộc vùng sâu còn nhiều khó khăn, tuy chưa đạt chuẩn văn hoá như quy định của Trung ương (có thể xét từ lớp 5 trở lên), nhưng có năng lực công tác và có uy tín trong vùng đồng bào Khmer, có khả năng vận động, thuyết phục đồng bào thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các phong trào của địa phương vẫn được xem xét kết nạp vào Đảng.

Trong năm 2008, Sóc Trăng đã kết nạp được 260 đảng viên là người dân tộc Khmer, đạt 14% so với tổng số đảng viên mới kết nạp (2.848 đảng viên), nâng số lượng đảng viên người dân tộc Khmer trong toàn tỉnh là 3.616 đảng viên, tăng 1.037 đảng viên so với đầu nhiệm kỳ.

Công tác xây dựng đội ngũ cốt cán trong chức sắc, chức việc, người có uy tín trong đồng bào Phật giáo Nam Tông Khmer cũng luôn được Tỉnh ủy chú trọng, quan tâm.

Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước của tỉnh đã khẳng định rõ vai trò nòng cốt, hoạt động có hiệu quả, gương mẫu trong việc chấp hành, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Quy chế của Hội; vai trò người lớn tuổi, người có uy tín tham gia hòa giải ở địa phương được phát huy, do đó, nhiều vụ việc đã được phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời ngay từ cơ sở, không để xảy ra điểm nóng trên địa bàn.

Trên cơ sở quy hoạch nguồn kết nạp đảng viên năm 2007, trong năm 2008, toàn tỉnh đã chuẩn y kết nạp 5 chức sắc trong Phật giáo Nam Tông Khmer.

Đối với các đối tượng là chức sắc trong Phật giáo, cũng có sự vận dụng các hướng dẫn của Trung ương cho phù hợp với điều kiện cụ thể về hình thức bồi dưỡng đối tượng Đảng, như: đối với các vị sư trụ trì chùa không có điều kiện học tập trung tại các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, huyện ủy nơi có quần chúng là đối tượng kết nạp Đảng đã cử giám đốc hoặc phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện trực tiếp truyền đạt các bài học và đưa tài liệu để đối tượng tự nghiên cứu, sau đó viết bài thu hoạch gửi Thường trực Huyện ủy và Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện (các thủ tục khác được tiến hành theo đúng quy định).

Theo đánh giá của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Sóc Trăng, công tác kết nạp đảng viên là chức sắc tôn giáo là một nhiệm vụ mới nhằm cụ thể hóa việc thực hiện chủ trương của Đảng về củng cố, xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên địa bàn dân cư, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng và đồng bào có đạo.

Qua thực tế của tỉnh Sóc Trăng, để thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, theo chúng tôi, các cấp ủy cần chú ý giải quyết tốt một số vấn đề sau:

Một là, có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ của công tác phát triển đảng viên với nhiệm vụ chính trị.

Muốn công tác phát triển đảng viên thật sự có chất lượng, mỗi tổ chức đảng và mỗi đảng viên phải xác định rõ đây là công việc hệ trọng, liên quan đến chất lượng lãnh đạo, uy tín, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng cũng như toàn Đảng.

Sự quan tâm của cấp ủy đối với việc giáo dục, bồi dưỡng và phát triển quần chúng vào Đảng biểu hiện ở khâu công tác cực kỳ quan trọng là tuyên truyền, giác ngộ những người ưu tú trong các đoàn thể quần chúng, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Đây là vấn đề tưởng rằng rất cũ, nhưng trong thực tế lại là một yêu cầu bức thiết, bởi, động cơ vào Đảng phải là kết quả tất yếu của quá trình giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cộng sản với ý thức tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng của Đảng, của dân tộc chứ không phải là hành động tự phát hay toan tính cá nhân.

Trong công tác kết nạp đảng viên là người dân tộc Khmer, người có đạo, khi xét tiêu chuẩn về trình độ học vấn (so với quy định chung), cần căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, nhưng nhất định phải là người có uy tín, gương mẫu. Đồng thời, giao cho đảng viên là người dân tộc thiếu số, người có đạo đảm nhiệm một số cương vị lãnh đạo, quản lý ở các cấp.

Đối với những quần chúng là tín đồ tôn giáo, người nào thực sự nhiệt tình, tích cực hoạt động xã hội thì được đưa vào các vị trí chủ chốt trong các tổ chức đoàn thể quần chúng. Làm như vậy sẽ động viên, khuyến khích được những quần chúng ưu tú tích cực phấn đầu trở thành đảng viên.

Hai là, đưa công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo thành công tác trọng tâm, nhất là ở những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo.

Các cấp ủy ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo cần nhận thức rõ yêu cầu, nhiệm vụ của công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và thường xuyên, đồng thời nắm vững mục đích, yêu cầu của việc tuyên truyền, giác ngộ là trang bị cho người học có những hiểu biết cơ bản bước đầu về Đảng như: lịch sử và truyền thống của Đảng, Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng; về con đường xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc. Trong đó, bám sát những sự kiện, vấn đề có tính thời sự của cuộc sống; chú trọng nội dung về chuẩn mực đạo đức của người công dân – đảng viên trong thời kỳ mới để qua đó, quần chúng nâng cao niềm tin, tự mình khẳng định một cách rõ ràng, chính xác lý tưởng và động cơ phấn đấu trở thành người đảng viên cộng sản chân chính. Cần chủ động tìm ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác này.

Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; hạn chế, đi đến xóa bỏ những định kiến đối với tôn giáo ở một số cơ sở.

Ở những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, cấp ủy tỉnh, huyện cần có nghị quyết chuyên đề về công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, đồng thời giúp đỡ cấp ủy cấp dưới khắc phục khó khăn về vấn đề này. Thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy nhận thức thống nhất, quán triệt nghiêm túc những quan điểm chỉ đạo của cấp trên và vận dụng linh hoạt, phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương, thì ở nơi đó công tác phát triển đảng viên đạt kết quả tốt.

Ba là, bồi dưỡng, tạo nguồn vững chắc cho công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ của các tổ chức đảng, là trách nhiệm của cấp ủy, của mọi đảng viên.

Phát triển đảng là trách nhiệm chung của toàn Đảng; đảng viên ở cấp nào cũng đều phải làm công tác phát triển đảng. Nguồn cho công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số, người có đạo cần được xác định theo nguyên tắc “động” và “mở”, không chỉ bó hẹp trong đối tượng thanh niên, mà cần chú ý đến cả các hội viên của các tổ chức chính trị - xã hội; không chỉ là tín đồ mà còn chú ý đến đối tượng là chức sắc trong các tôn giáo.

Các tổ chức đảng, nhất là chi bộ và đảng ủy cơ sở phải có kế hoạch phát triển đảng viên, tổ chức lựa chọn, bồi dưỡng nguồn, trong đó có sự phân công bồi dưỡng nguồn và phân công đảng viên giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào Đảng.

Trong quá trình bồi dưỡng, giúp đỡ, cần thẳng thắn chỉ rõ cho quần chúng thấy những mặt tốt và chưa tốt, để họ tự sửa chữa, phấn đấu. Đây là công việc có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác phát triển đảng viên, Bởi vì, cùng với việc tổ chức bồi dưỡng, giáo dục để xây dựng động cơ cho người xin vào Đảng, tổ chức đảng còn là người phát hiện khả năng lãnh đạo của người xin vào Đảng, như năng lực tổ chức, giáo dục, vận động quần chúng, khả năng đề xuất biện pháp và hướng mọi người làm theo. Cần khắc phục quan niệm cho rằng, mọi quần chúng tốt đều có thể trở thành đảng viên.

Hiện nay, vai trò, trách nhiệm của đảng viên trong việc phát hiện, tạo nguồn phát triển đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng, giúp đỡ những quần chúng ưu tú theo sự phân công của tổ chức đảng. Do đó, cần nâng cao trách nhiệm của đảng viên trong việc chủ động phát hiện, giới thiệu người vào Đảng, và trách nhiệm của họ trước chi bộ về kết quả giáo dục, bồi dưỡng, động cơ phấn đấu vào Đảng cũng như chất lượng nói chung của đối tượng trước khi kết nạp. Điều đó đặt ra yêu cầu chỉ phân công những đảng viên thật sự tiêu biểu, xuất sắc, thật sự gương mẫu trực tiếp giáo dục, giúp đỡ đối tượng và đảng viên mới.

Mặt khác, cần quán triệt quan điểm của Đảng về việc dựa vào quần chúng để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ở đây, việc phát động quần chúng giám sát, đóng góp ý kiến với tổ chức đảng là một hình thức hữu hiệu trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên nói riêng. Khi đã có quy chế chặt chẽ và thực hiện một cách thường xuyên việc lấy ý kiến của quần chúng về tổ chức đảng, đảng viên và đối tượng kết nạp Đảng, thì bản thân tổ chức đảng, từng cá nhân đảng viên cũng như các đối tượng trước khi kết nạp sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm và tu dưỡng, rèn luyện tốt hơn.

Bên cạnh đó, cấp ủy cấp trên phải đi sát giúp đỡ các chi bộ thực hiện đúng kế hoạch, đúng phương châm, phương hướng, nguyên tắc, thủ tục và thường xuyên nắm chắc tình hình phát triển đảng viên của cấp dưới; tăng cường kiểm tra, đôn đốc và kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai trái. Cần chống hai khuynh hướng: cấp trên giao khoán số lượng, chỉ tiêu kết nạp đảng cho cấp dưới, nhưng không giúp đỡ, tạo điều kiện cho cấp dưới thực hiện; và cấp dưới thiếu chủ động, ỷ lại, dựa dẫm vào sự điều động đảng viên, cán bộ ở nơi khác đến mà không tích cực bồi dưỡng, phát triển đảng viên từ nguồn tại chỗ./.

Nguyễn Phi Long

VIDEO