Thứ Sáu, 19/1/2018
APEC 2017 - Những cơ hội và động lực hợp tác phát triển
20/12/2017 21:27' Gửi bài này In bài này
Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu chào mừng tại Phiên khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh doanh nghiệp APEC 2017 (CEO Summit 2017)- Nguồn: baotintuc.vn

Cơ hội thúc đẩy các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại tại những sự kiện mà Việt Nam chủ trì

Trong chuỗi khoảng 300 các sự kiện diễn ra trong khuôn khổ APEC 2017, các hoạt động liên quan tới doanh nghiệp chiếm tới 50%. Điều này cho thấy tầm quan trọng và cơ hội lớn của APEC 2017 cho cộng động doanh nghiệp.

Với sự có mặt tại Việt Nam của các lãnh đạo quốc gia thành viên (trong Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, lãnh đạo cao nhất của Mỹ, Trung Quốc, Nga đều thăm chính thức Việt Nam), khoảng 1.200 lãnh đạo doanh nghiệp, APEC 2017 thực sự là “cơ hội vàng” cho các hoạt động quảng bá, cung cấp thông tin thị trường, môi trường và chính sách kinh doanh, củng cố hình ảnh một nước Việt Nam năng động, cởi mở, mến khách và an ninh cao. Việt Nam tiếp tục khẳng định sự phát triển với các chính sách thông thoáng về thương mại, đầu tư ngày càng phù hợp với chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam kết nối và phát triển chuỗi liên kết với các doanh nghiệp, đối tác ở trong và ngoài APEC, đa dạng hóa và phối hợp hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế cho quá trình hội nhập và phát triển bền vững.

Cùng với các cuộc đối thoại bên lề về thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp Việt Nam và lãnh đạo các nền kinh tế APEC, bắt đầu từ năm 2017, Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam (VBS) được tổ chức thường niên tại Việt Nam, chủ đề năm nay là “Việt Nam - đối tác kinh doanh tin cậy”. Hội nghị thảo luận về 6 chủ đề, gồm Nông nghiệp bền vững và thông minh; Tài chính cho phát triển; Y tế và Giáo dục; Kết cấu hạ tầng; Đặc khu kinh tế; Khởi nghiệp và đổi mới - sáng tạo, kết hợp với triển lãm xúc tiến thương mại, đầu tư, có sự tham gia của đại diện các tỉnh, thành phố cả nước. Những việc này sẽ giúp nhân đôi giá trị cho hoạt động của các doanh nghiệp tại diễn đàn APEC, cũng như giá trị của Việt Nam khi đăng cai APEC năm nay, trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng trên thế giới, để tìm ra cách phát huy vai trò vườn ươm khởi nghiệp của thế giới, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa trong kỷ nguyên số, đồng thời nâng cao vị thế của phụ nữ trong nền kinh tế, giúp toàn cầu hóa “mềm mại hơn, nhân văn hơn” và không ai bị bỏ lại phía sau.

Cơ hội và động lực phát triển từ xu hướng tăng cường hợp tác nội khối ngày càng toàn diện, trên cơ sở các nguyên tắc đồng thuận và linh hoạt phù hợp trong hoạt động

APEC là tập hợp lực lượng của 21 nền kinh tế rất đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử và văn hóa, về chế độ chính trị - xã hội và cũng chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển. APEC chủ trương tăng cường hợp tác nội khối trên cơ sở các nguyên tắc hợp tác đối thoại cởi mở, đồng thuận, bình đẳng, tự nguyện và cùng có lợi, giành ưu đãi chậm hơn 10 năm và hỗ trợ rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế, phản ánh mục đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong khu vực và trên thế giới.

Quán triệt các nguyên tắc đó, Việt Nam luôn đồng hành cùng các nước thành viên chủ động, tích cực khai thác các động lực liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ tăng trưởng, hướng tới thực hiện thành công Mục tiêu Bogo vào năm 2020 và định hình tương lai hợp tác sau năm 2020. Trong đó, tập trung vào những mục tiêu tăng trưởng bền vững, bao trùm, sáng tạo; thúc đẩy cải cách cơ cấu, tăng cường kết nối, phát triển các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ; phát triển con người và nâng cao năng lực thể chế, đặt người dân và doanh nghiệp ở trung tâm của sự phát triển; hướng tới việc hình thành Khu vực thương mại tự do toàn châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP).

Hoạt động hợp tác nội khối APEC ngày càng tăng về quy mô, đa dạng về hình thức và lan rộng về phạm vi, trong những khuôn khổ thể chế ngày càng chặt chẽ hơn. APEC tăng cường kết nối chuỗi cung ứng cả trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại, đầu tư, ngân sách, nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, du lịch, xúc tiến thuơng mại, vận tải và thông tin viễn thông,… cũng như trong khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, tài nguyên biển và chống biến đổi khí hậu, chống khủng bố,... Thương mại nội khối năm 2014 đạt 18,4 nghìn tỷ USD, tăng gấp 4 lần năm 1994; Thuế quan MFN trung bình trong khu vực APEC giảm từ 11% (năm 1996) xuống còn 5,5% vào năm 2014. Số lượng dòng hàng hưởng thuế suất 0% chiếm 45,4%. Số ngày thông quan hàng hóa đã giảm mạnh và lĩnh vực logistics được cải thiện. Trong giai đoạn 1996 - 2015, số lượng các FTA/RTA đi vào thực thi trong APEC tăng từ 22 lên 152, với 61 hiệp định được ký kết giữa các thành viên APEC. Ngoài ra, từ năm 2014, có 19/21 thành viên APEC đã chấp nhận Thẻ doanh nhân APEC (ABTC), theo đó các quan chức, doanh nghiệp các nước thành viên được cấp thị thực tự do đi lại từ 60 ngày - 90 ngày.

Đặc biệt, Diễn đàn thường niên về Tài chính toàn diện APEC liên tiếp trong 7 năm qua là một kênh hợp tác, đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm hữu ích giữa các nền kinh tế thành viên APEC với các bên đối tác trong bối cảnh tài chính toàn diện ngày càng có vai trò quan trọng góp phần xóa nghèo và phát triển bền vững. Chủ đề Diễn đàn năm 2017 là về định hướng tài chính toàn diện phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn với nội dung thảo luận bao gồm: (1) Xác định đúng đắn phạm trù tài chính toàn diện; thực trạng triển khai các ứng dụng kỹ thuật số trong lĩnh vực này; (2) Vai trò của tín dụng và các dịch vụ/sản phẩm tài chính trong hỗ trợ phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn; (3) Triển vọng và các chính sách thúc đẩy các công nghệ mới trong dịch vụ tài chính; (4) Giáo dục tài chính góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của người dân trong tiết kiệm và đầu tư; (5) Tạo dựng môi trường phù hợp cho các sản phẩm và dịch vụ tài chính vi mô; (6) Phát triển bảo hiểm vi mô; (7) Chuỗi cung ứng tài chính trực tuyến: thách thức và yêu cầu chính sách; và (8) Phát triển định dạng số như một nhu cầu thiết yếu của phát triển. Các nội dung này rất quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam và các nước đang ở giai đoạn đầu tiếp cận tài chính toàn diện.

Cũng trong khuôn khổ các sự kiện hợp tác tài chính - ngân hàng trong năm APEC 2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp với Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội nghị lần thứ tư về Cải cách hạ tầng tài chính (FIDN) ngày 12-7-2017. Tiếp đó, ngày 20 và 21-10-2017, lãnh đạo các bộ tài chính và Ngân hàng Trung ương APEC đã nhất trí với 4 chủ đề sáng kiến trong tiến trình hợp tác tài chính APEC 2017 do Việt Nam đề xuất, gồm đầu tư dài hạn cho kết cấu hạ tầng; chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận; tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai; tài chính bao trùm.

Tuyên bố chung của các bộ trưởng tài chính 21 nền kinh tế thành viên APEC về xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận được thông qua ngày 21-10-2017, tại thành phố Hội An (tỉnh Quảng Nam), khẳng định tầm quan trọng của các vấn đề xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS) đến các nền kinh tế thành viên APEC và sự cần thiết tăng cường hợp tác trong khu vực nhằm chia sẻ kinh nghiệm, cách tiếp cận và các thông lệ tốt nhất trong việc xây dựng chính sách, pháp luật và quản lý thuế, nhằm giải quyết những thách thức về BEPS trong khu vực.

Nhìn chung, các cuộc họp ở cấp nhóm làm việc, họp quan chức cấp cao và các cuộc họp cấp bộ trưởng trong khuôn khổ APEC 2017 đều diễn ra khá thuận lợi. Các bên thống nhất được nhiều vấn đề cơ bản, chủ yếu tập trung vào: Cải thiện tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, cải thiện khả năng tăng trưởng bao trùm và bền vững, cải thiện khả năng đổi mới các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bảo đảm an ninh lương thực… Tất cả các sáng kiến đều sẽ được trình lên các nguyên thủ APEC để cho ý kiến chỉ đạo cuối cùng.

Cơ hội và động lực mạnh mẽ được quy định bởi sự hội tụ trong APEC các đối tác toàn diện và chiến lược quan trọng nhất của Việt Nam

APEC hiện chiếm 40% dân số, gần 60% GDP và 49% giao dịch thương mại toàn cầu; đặc biệt, chiếm 78% FDI, 75% kim ngạch thương mại, 79% du khách quốc tế và 80% du học sinh Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Trong APEC có tất cả các đối tác hàng đầu của Việt Nam, từ nước là nguồn cung cấp ODA lớn nhất (Nhật Bản); nguồn cung cấp FDI lớn nhất (Hàn Quốc); thị trường xuất khẩu và xuất siêu lớn nhất (Mỹ), đến thị trường nhập khẩu, nhập siêu lớn nhất của Việt Nam (Trung Quốc và Hàn Quốc).

Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 185 nước và quan hệ kinh tế -thương mại với trên 220 nước, vùng lãnh thổ; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực; trong đó có trên 90 hiệp định thương mại song phương. 65 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Ngoài WTO, Việt Nam đã ký 11 hiệp định thương mại tự do (FTA), kết thúc đàm phán FTA với Liên minh châu Âu (EU) và đang đàm phán 6 FTA khác. Đặc biệt, 18/21 thành viên APEC hiện đã có các FTA với Việt Nam. Hơn nữa, có tới 13 thành viên APEC đang là đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện (trong tổng số 16 đối tác chiến lược và 11 đối tác chiến lược toàn diện) của Việt Nam trên thế giới.

Cơ hội và động lực được hội tụ và lan tỏa từ quá trình đổi mới đồng bộ và phát triển các thể chế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh trong khuôn khổ các cam kết hội nhập nói chung và trong APEC nói riêng của Việt Nam

Quá trình tham gia APEC cũng là quá trình Việt Nam chủ động đổi mới toàn diện, vượt qua các thách thức, khẳng định mình và đồng hành thành công cùng APEC nói riêng, thế giới nói chung. Trên thực tế, Việt Nam đã ghi nhận được nhiều thành quả bước đầu tích cực, đặc biệt là tính chất tự do hóa kinh doanh và sự cạnh tranh bình đẳng thị trường đã được cải thiện mạnh mẽ.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017 - 2018 đã đưa Việt Nam lên hạng 55, tăng 5 bậc so với năm trước và 20 bậc so với cách đây 5 năm. Chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2017 của Việt Nam tăng 12 bậc và tăng 29 bậc so với năm 2013. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2017 cũng được Liên hợp quốc xếp hạng tăng 20 bậc, lên mức 68/157 quốc gia, vùng lãnh thổ… Đặc biệt, Việt Nam được xếp hạng thứ 68/190 quốc gia, tăng 14 bậc so với đánh giá triển vọng năm 2017 trong Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2018: Cải cách để tạo việc làm (Doing Business).

Sự phân nhiệm cụ thể và rõ ràng, sự phối hợp giữa các cơ quan cũng được tăng cường nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ. Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, ngày 06-02-2017, của Chính phủ, về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, đã chỉ rõ hơn 200 nhiệm vụ của bộ, ngành. Ở các địa phương thì ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đều giao đầu mối cho các sở, ban, ngành. Ngày 03-10-2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 98/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII. Theo đó, cả nước tiếp tục rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ ít nhất từ 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh, các rào cản, quy định khác không cần thiết, bất hợp lý, nhằm giảm chi phí doanh nghiệp và mở rộng khả năng tham gia thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng; tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng dự thảo Nghị định kiểm soát và nâng cao chất lượng điều kiện đầu tư kinh doanh, trình Chính phủ trong tháng 12-2017.

Thông điệp mạnh mẽ đã được Thủ tướng nhấn mạnh: Năm 2017 là năm giảm chi phí cho doanh nghiệp. Việt Nam đã, đang và cần tiếp tục nỗ lực đột phá thể chế, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động vì người dân, doanh nghiệp; đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tập trung tháo gỡ các rào cản về giấy phép con, lợi ích nhóm, chấm dứt tình trạng “trên nóng dưới lạnh”, cán bộ thờ ơ, nhũng nhiễu doanh nghiệp, mặc định chi phí không chính thức là tất yếu, phấn đấu tăng GDP bình quân 6,5% - 7%/năm trong giai đoạn 2017 - 2020; hoàn thành mục tiêu về môi trường kinh doanh đạt trung bình của nhóm nước ASEAN 4, mà Nghị quyết số 19 của Chính phủ đặt ra.

Tham gia vào APEC, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế, cơ cấu kinh tế sẽ có sự chuyển dịch sâu sắc hơn theo hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, trước hết với các nước thành viên tham gia FTA với Việt Nam. Các nhóm hàng chủ lực xuất khẩu của Việt Nam sẽ đa dạng hơn. Các ngành du lịch, nông nghiệp, thủy, hải sản sẽ tiếp tục tăng trưởng thuận lợi. Nhóm ngành dệt may, giày dép và gạo có khả năng cạnh tranh nhờ giảm hàng rào thuế quan và mua được nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sản xuất. Quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ đẩy mạnh hơn. Các hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) cũng được thúc đẩy cả bề rộng và bề sâu, nhất là trong lĩnh vực bất động sản, sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng, ngân hàng, dệt may, chế tạo cơ khí… Khu vực có FDI tiếp tục đóng vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nhất là xuất khẩu.

Tham gia vào APEC, Việt Nam cũng đứng trước nhiều áp lực phải đẩy nhanh các hoạt động cải cách đồng bộ khác nhằm đáp ứng các chuẩn mực nền kinh tế thị trường; nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ cấu sản phẩm và trình độ công nghệ lạc hậu; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; trọng dụng người hiền tài và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, phát huy dân chủ; phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung cấp nguyên liệu; kiểm soát tốt an toàn tài chính vĩ mô, nợ công, nợ xấu, sở hữu chéo và điều tiết dòng tín dụng; giữ vững, củng cố và khai thác động lực lòng tin cho quá trình cải cách và phát triển đất nước và doanh nghiệp; đa dạng hóa và giảm dần sự phát triển phụ thuộc vào vốn và vào tăng trưởng từ nguồn lao động giá rẻ, tăng trưởng nhờ qua đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đặc biệt, tham gia hội nhập cùng APEC và thế giới còn đòi hỏi toàn thể hệ thống chính trị, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong đổi mới tư duy, xây dựng chuẩn giá trị quốc gia và chủ thuyết phát triển thích hợp với thực tiễn; khích lệ tinh thần khởi nghiệp, bản lĩnh và quyết tâm đổi mới và phát triển; tăng cường bảo vệ lợi ích quốc gia, kiểm soát và không để lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ chi phối chính sách và quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đời sống chính trị đất nước.../.

TS. Nguyễn Minh Phong(*), ThS. Nguyễn Trần Minh Trí(**)(*) Phó Vụ trưởng, Phó Ban Tuyên truyền lý luận, Báo Nhân Dân (**) Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Video