Thứ Sáu, 19/10/2018
Đổi mới văn học, nghệ thuật dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
9/10/2018 21:20' Gửi bài này In bài này
Khách tham quan Triển lãm "Tranh dân gian Việt Nam" tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: TTXVN

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật

Trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định văn học, nghệ thuật ra đời và vận động gắn liền với quá trình phát triển của con người, bằng lao động và thông qua lao động. Đồng thời, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng chỉ rõ, văn học, nghệ thuật là hoạt động sáng tạo đặc thù, riêng có của con người. C. Mác đã viết trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844: “Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp”(1). Bên cạnh việc kiến giải vấn đề nguồn gốc của văn học, nghệ thuật, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đưa ra những luận điểm khoa học đề cập bản chất, đặc trưng của văn nghệ, khẳng định, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội. Trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (năm 1859), C. Mác viết: “Trong việc sản xuất ra đời sống mang tính xã hội, con người tiến đến việc xác định các mối quan hệ thiết yếu và độc lập với ý chí của mình, các quan hệ sản xuất tương ứng với một giai đoạn phát triển xác định của các lực lượng sản xuất vật chất. Toàn bộ những quan hệ sản xuất này thiết lập nên cấu trúc kinh tế của xã hội, cái nền tảng hiện thực ở đó dựng lên một cấu trúc thượng tầng chính trị hợp pháp và tương ứng với nó là các hình thái ý thức xã hội xác định. Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quy định tiến trình của đời sống tinh thần, chính trị, xã hội nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của con người, mà ngược lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(2). C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng chỉ rõ, đó không phải là mối quan hệ giản đơn, duy nhất và mang tính cơ học; ngược lại, đó là mối quan hệ rất phức tạp, mà trong đó, văn học, nghệ thuật là lĩnh vực đặc thù, có những mối quan hệ tự thân mang tính quy luật. C. Mác khẳng định: “Đối với các ngành nghệ thuật, một điều hiển nhiên rằng có những giai đoạn nhất định, sự nở rộ những tác phẩm nghệ thuật không hoàn toàn tương ứng với nền tảng vật chất, cấu trúc khung, có thể nói như vậy, của tổ chức xã hội”(3). C. Mác và Ph. Ăng-ghen đặc biệt nhấn mạnh chức năng nhận thức và chức năng giáo dục của văn học, nghệ thuật. Khi nghiên cứu về vai trò của văn học Anh, C. Mác và Ph. Ăng-ghen viết: “Cả một lớp nhà văn tiểu thuyết hiện đại xuất sắc của nước Anh trong các tác phẩm chói lọi và hùng hồn đã vạch ra cho toàn thế giới nhiều chân lý chính trị và xã hội, hơn là tất cả các chính khách chuyên nghiệp, các nhà chính luận và các nhà đạo đức học chuyên nghiệp gộp lại”(4). Bên cạnh đó, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng rất coi trọng chức năng thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật: “Sách nhân dân có sứ mệnh phải làm cho nông dân vui khi họ mệt mỏi sau khi làm việc nặng nề trở về buổi chiều tối, giúp họ giải trí, làm cho họ tươi tỉnh, bắt họ quên lao động nặng nhọc của họ, biến cánh đồng sỏi đá của họ thành vườn cây quả thơm tho; nó có sứ mệnh biến xưởng của người thợ thủ công và căn buồng sát mái thảm hại của anh thợ học việc kiệt sức thành thế giới thi ca, thành cung điện vàng”(5).

Trên cơ sở những luận điểm cơ bản nêu trên, V.I. Lê-nin đã tiếp thu, vận dụng và phát triển phù hợp hoàn cảnh cách mạng và yêu cầu xây dựng nền văn học, nghệ thuật của giai cấp vô sản. Trong bài Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng (năm 1905), V.I. Lê-nin đặc biệt khẳng định vai trò quan trọng của văn nghệ trong công cuộc xây dựng nền văn hóa vô sản. Ông nhấn mạnh: “Văn học phải trở thành một bánh răng và một cái đinh ốc của cỗ máy dân chủ xã hội vĩ đại duy nhất”(6). Bên cạnh những vấn đề về nguyên tắc tính đảng trong văn học, nghệ thuật, Lê-nin phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về đặc trưng của văn nghệ. Ông cho rằng, nền văn học, nghệ thuật vô sản cần phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa tinh hoa nghệ thuật của các nền văn hóa trước đó, đồng thời khẳng định tính đặc thù, xem văn nghệ là lĩnh vực cần phải được bảo đảm về tự do sáng tạo, tự do tư tưởng: “Không nghi ngờ gì nữa, chính những hoạt động văn học là cái có thể dung hòa ít nhất với một chủ nghĩa bình quân máy móc, một sự thống trị của thiểu số trước đa số. Không nghi ngờ gì nữa, trong phạm vi này, sự bảo đảm cho một lĩnh vực hoạt động khá rộng rãi đối với tư tưởng và trí tưởng tượng, đối với hình thức và nội dung, là vô cùng thiết yếu”(7). Như vậy, C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của quá trình cách mạng vô sản đã có những tư tưởng đúng đắn, khoa học về những bình diện cốt lõi của lý luận văn nghệ, có tác động định hướng sự phát triển của văn học, nghệ thuật.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu, tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về văn học, nghệ thuật vào thực tiễn cách mạng ở nước ta. Những luận điểm của Người về văn học, nghệ thuật đã trở thành những nguyên tắc rường cột cho sự phát triển, hiện đại hóa nền văn nghệ Việt Nam, gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của toàn dân tộc. Thấm nhuần tư tưởng về mối quan hệ hữu cơ giữa văn học và hiện thực, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(8). Từ đó, Người khẳng định: “Dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”(9). Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người nhấn mạnh: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”(10). Trước những nhiệm vụ có tính chất lịch sử - cụ thể đó của mỗi giai đoạn phát triển văn nghệ nước nhà, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra một thiên chức riêng biệt của văn nghệ là bám sát đời sống con người, miêu tả và khám phá con người, bảo vệ và khẳng định con người mới đang hình thành trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ nhưng rất vĩ đại vì sự chiến thắng của xã hội mới: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng chân thật những người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu đời sau”(11). Người đề nghị văn nghệ sĩ phải “miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn”(12) hiện thực đời sống và chỉ có sự thống nhất của ba yêu cầu đó mới tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đích thực và có giá trị bền vững. Trong những năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có sức cổ vũ và tác động to lớn đối với nền văn nghệ cách mạng và những nghệ sĩ - chiến sĩ của chúng ta. Hơn một năm trước khi qua đời, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất đi, đó là thái độ của người cách mạng”(13). Từ đó, Người đòi hỏi sáng tạo văn học, nghệ thuật “cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”(14). Gắn liền với đòi hỏi đó, như là một mặt không thể thiếu được của nó, là việc cần phải kiên quyết phê phán những cái xấu, cái ác, cái hèn kém, cái đê tiện... trong con người và xã hội: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời, để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra”(15). Tham gia cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại của cả dân tộc, miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn cái mới, cái tốt đẹp đang nảy sinh trong đời sống hiện thực và dũng cảm, nghiêm khắc phê bình, lên án những cái xấu, khuyết điểm, sai lầm; qua đó góp phần tích cực vào sự thắng lợi của cuộc chiến đấu giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của văn nghệ. Gắn bó máu thịt với dân tộc, với nhân dân đang đấu tranh và xây dựng, phải thể hiện sự gắn bó đó trên tất cả các mặt, các quy trình của hoạt động văn nghệ, từ đề tài đến mục đích, từ nội dung đến hình thức, từ phong cách đến ngôn ngữ, từ suy nghĩ, tình cảm đến sự tham gia trực tiếp của người nghệ sĩ vào đời sống và cuộc đấu tranh của nhân dân,... đó là quan điểm xuyên suốt trong tất cả các bài viết, bài phát biểu, nói chuyện, thư từ, sáng tác,... của Hồ Chí Minh về văn nghệ. Chính từ quan điểm đó, Người đòi hỏi rất cao đối với chất lượng hoạt động của văn nghệ, thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót: “Phong trào văn hóa có bề rộng, chưa có bề sâu, nặng về mặt giải trí và còn nhẹ về mặt nâng cao tri thức của quần chúng. Về mặt tổ chức và lãnh đạo còn thiếu chặt chẽ, chưa dựa hẳn vào lực lượng của nhân dân, chưa dùng hết khả năng của các nhà trí thức”(16). Sự nhắc nhở đó của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thời sự.

Sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật trong thực tiễn cách mạng Việt Nam

Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực được Đảng ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo từ khi thành lập đến nay. Trong giai đoạn 1930 - 1945, trong điều kiện hoạt động bí mật, Đảng tập trung trực tiếp vào công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phổ biến các quan điểm của Đảng trong tổ chức cơ sở đảng và trong đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, tổ chức và động viên họ sáng tạo tác phẩm góp phần cổ vũ, động viên nhân dân tích cực tham gia cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mặt khác, Đảng sử dụng văn học, nghệ thuật như một loại vũ khí đặc biệt để chống lại mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đấu tranh chống lại các trào lưu mỹ học và triết học phản động. Trong giai đoạn này, đáng lưu ý là cuộc tranh luận giữa Hải Triều với Hoài Thanh và Thiếu Sơn về vấn đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh”. Nhìn chung, thời kỳ này, lĩnh vực văn học, nghệ thuật cách mạng đã đạt được những bước tiến quan trọng. Dấu mốc lịch sử trong sự lãnh đạo của Đảng với văn hóa, văn học, nghệ thuật là sự ra đời của bản Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943). Trên cơ sở phương pháp luận mác-xít gắn với phân tích sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đề cương xác định ba nguyên tắc vận động văn hóa ở Việt Nam thời kỳ này là: 1- Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho vǎn hóa Việt Nam phát triển độc lập); 2- Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho vǎn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng); 3- Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho vǎn hóa trái khoa học, phản tiến bộ). Đến nay bản Đề cương vẫn còn có ý nghĩa sâu sắc và giữ vững được những giá trị lịch sử riêng.

Trong giai đoạn 1945 - 1985, Đảng lãnh đạo và tổ chức toàn dân thực hiện 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, rồi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Tháng 7-1948, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, đồng chí Trường Chinh, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đã trình bày văn kiện “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”. Với một cấu trúc chặt chẽ, hợp lý, bao quát từ những nguyên lý chung tới những vấn đề cụ thể, thiết thực, từ tổng thể văn hóa đến văn học, nghệ thuật, bản văn kiện đã ghi dấu ấn quan trọng đối với đời sống văn hóa, văn học, nghệ thuật nước ta. Lần đầu tiên, kể từ khi thành lập Đảng, những người làm công tác văn hóa, văn nghệ Việt Nam mới có một quan niệm văn hóa toàn diện trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi vẻ vang, nhân dân ta bước vào thời kỳ lịch sử mới, những vấn đề mới xuất hiện cùng. Ở miền Bắc, khuynh hướng đòi dân chủ về chính trị, đòi tự do cho sáng tạo nghệ thuật cũng như trong nhiều hoạt động văn hóa - tư tưởng đã thể hiện công khai trên báo chí. Trước tình hình trên, Đảng đã có sự điều chỉnh phương thức lãnh đạo đối với văn hóa, văn nghệ. Vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX, Đảng tạo điều kiện để văn nghệ sĩ được thâm nhập trong thực tế cuộc sống, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nghĩ với những người nông dân, công nhân, từ đó mới thấu hiểu và sáng tạo những tác phẩm văn nghệ phản ánh chân thật tâm tư, nguyện vọng của họ. Đảng còn tổ chức các diễn đàn tranh luận về quan điểm văn nghệ, về phương pháp sáng tác, về trách nhiệm công dân của văn nghệ sĩ để bản thân những người trong giới tự phê phán những quan điểm sai trái, những lệch lạc về nhận thức tư tưởng cả trên diễn đàn hội nghị lẫn trên báo chí. Trong khi đó, với văn nghệ cách mạng miền Nam, Đảng chủ trương gây dựng phong trào văn nghệ tại chỗ, cùng với việc chi viện những văn nghệ sĩ tài năng từ miền Bắc, hình thành nền văn nghệ cách mạng có bề rộng và chiều sâu, với thành quả là tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị bền vững với thời gian.

Sau khoảng thời gian 10 năm sau hòa bình, thống nhất, đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Vào những năm đầu tiên của đổi mới, để bảo đảm định hướng tư tưởng chính trị đối với sự phát triển văn học, nghệ thuật thời kỳ mới, Bộ Chính trị khóa VI đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 28-11-1987, về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”. Có thể nói, Nghị quyết đã tạo nên một động lực mới cho quá trình phát triển văn học, nghệ thuật trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới. Nghị quyết thể hiện những quan điểm đổi mới có tính nguyên tắc của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, có tác dụng thúc đẩy hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Do các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, Nghị quyết 05 chưa được triển khai đầy đủ, nhất quán, do đó, hiệu quả chỉ đạo không được như mong muốn. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII (Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 14-01-1993) “Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt” đã xác định 5 quan điểm chỉ đạo để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xác định một số biện pháp cần tập trung thực hiện để vừa nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, vừa góp phần tạo động lực cho văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển. Chính nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết và kịp thời, tập trung xây dựng cơ chế và chính sách, tháo gỡ khó khăn của Đảng và Nhà nước mà văn học, nghệ thuật nước nhà đã tiếp tục ổn định, phát triển và có những thành tựu đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Những năm cuối của thế kỷ XX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được ban hành. Trong Nghị quyết này, Đảng ta khuyến khích mọi tìm tòi, thử nghiệm các phương pháp, phong cách sáng tạo, hướng văn nghệ tập trung phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII ra đời đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của nhân dân, đã đi vào cuộc sống, được xã hội nhiệt tình hưởng ứng và thực hiện, gắn kết chặt chẽ văn hóa với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại của đất nước... Tuy nhiên, Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khóa IX cũng chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm của văn học, nghệ thuật là thiếu những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực và sâu sắc trong đời sống; còn có biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng, trong lý luận - phê bình và sáng tạo, trước những tác động ngày càng phức tạp của quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa...

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ Chính trị khóa X “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” đã được ban hành (năm 2008). Đây là một nghị quyết chuyên đề đầu tiên về văn học, nghệ thuật nước nhà. Nghị quyết khẳng định những thành tựu, hạn chế, khuyết điểm của văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới vừa qua, từ đó xác định ba mục tiêu cần phấn đấu đạt được. Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết nhấn mạnh, phải tiếp tục quán triệt và thực hiện năm quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII; riêng về văn học, nghệ thuật, cần nhấn mạnh và bổ sung ba quan điểm gắn với đặc trưng, đặc thù của lĩnh vực đặc biệt tinh tế này. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đã chỉ ra sáu vấn đề lớn trong chủ trương và giải pháp triển khai thực hiện. Có thể nói, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X là bước phát triển lớn trong tư duy lý luận, tư duy lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta về văn học, nghệ thuật, là sự kế thừa và phát triển các quan điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được đúc kết qua chính thực tiễn cách mạng của dân tộc trong suốt một thế kỷ đã qua.

Kết quả nổi bật qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW và những hạn chế cần khắc phục để phát triển văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay

Nhìn một cách tổng thể, qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, văn học, nghệ thuật nước nhà vẫn tiếp tục khơi dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc, với cuộc sống. Văn học, nghệ thuật tiếp tục có những đóng góp quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam. Tự do trong sáng tạo văn học, nghệ thuật được chú trọng và từng bước nâng cao, thúc đẩy đội ngũ văn nghệ sĩ khai thác những đề tài đa dạng, không ngừng tìm kiếm, thể nghiệm những phương thức biểu hiện mới. Trong những năm gần đây, nhiều tác giả tập trung khai thác đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng, bước đầu có những tác phẩm thành công, được công chúng nồng nhiệt đón nhận. Ở những tác phẩm này, người sáng tạo đã tiếp nối truyền thống tốt đẹp của văn học, nghệ thuật trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, đồng thời có nhiều tìm tòi về nội dung, mở rộng phạm vi phản ánh, cắt nghĩa, lý giải lịch sử, văn hóa, trên nền tảng cảm hứng nhân văn, nhân đạo, mang lại những phẩm chất thẩm mỹ mới mẻ. Bên cạnh những nỗ lực khai thác mạch nguồn lịch sử - văn hóa, đội ngũ sáng tạo cũng đặc biệt nhạy bén với những vấn đề thế sự, qua tác phẩm của mình để tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh lên án, tố cáo cái xấu, cái ác, bảo vệ các giá trị nhân văn và phẩm giá con người. Ở những tác phẩm này, ưu thế đặc biệt của văn học, nghệ thuật với sức mạnh của tư duy hình tượng đã góp phần cảnh báo, phản biện sâu sắc, có hiệu quả. Bên cạnh sự chủ động trong khai thác hệ thống đề tài phong phú, đội ngũ văn nghệ sĩ tiếp tục có những tìm tòi, cách tân hình thức biểu hiện nghệ thuật. Những trào lưu văn nghệ hiện đại, đương đại của thế giới đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng lớn để đội ngũ sáng tạo đổi mới hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật, mang lại sức sống mới cho sáng tác ở hầu hết các loại hình nghệ thuật, trong đó có những trường hợp gây được tiếng vang ở trong và ngoài nước.

Lĩnh vực lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong khoảng 10 năm qua tiếp tục phát huy những ưu điểm như Nghị quyết số 23-NQ/TW đã nêu, có bước đổi mới đáng khích lệ, lý giải khoa học hơn những vấn đề cốt lõi của văn học, nghệ thuật, như mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị, giữa hiện thực và nghệ thuật,... Tư tưởng văn nghệ truyền thống của cha ông được quan tâm nghiên cứu bên cạnh việc tích cực dịch, tiếp thu các tư tưởng văn nghệ tinh hoa của thế giới. Các thành tựu văn học, nghệ thuật thế kỷ XX được nghiên cứu, đánh giá ngày càng có tính hệ thống và thỏa đáng. Một số phương pháp nghiên cứu văn nghệ phi truyền thống được vận dụng, cung cấp hệ thống những khái niệm mới, góp phần nắm bắt các thể nghiệm của lĩnh vực sáng tạo. Công tác sưu tầm, bảo tồn, phát huy các di sản văn học, nghệ thuật các dân tộc đạt được những kết quả thiết thực. Phê bình văn nghệ trong thời gian qua về cơ bản phát huy được tác dụng tích cực đối với sáng tác, phát hiện cái tốt, ủng hộ cái mới trong hoạt động sáng tạo; từng bước khắc phục lối phê bình xã hội học dung tục, võ đoán, quy chụp chính trị hoặc trì trệ, bảo thủ không theo kịp sự phát triển; đồng thời tham gia tích cực trong đấu tranh với những xu hướng cực đoan, đối lập văn nghệ với chính trị, phủ nhận thành tựu của văn nghệ cách mạng, phủ nhận sự thật lịch sử, tuyệt đối hóa hình thức,...

Công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tài năng văn học, nghệ thuật có những chuyển biến đáng ghi nhận. Các cấp ủy đảng, các bộ, ngành, đoàn thể, các tỉnh, thành có lực lượng hoạt động và sáng tạo văn học, nghệ thuật đã có nhiều cố gắng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo văn hóa, văn nghệ, gắn kết một số nhiệm vụ và hoạt động văn hóa, văn nghệ với sự phát triển chung về kinh tế - chính trị - xã hội của bộ, ngành, địa phương; có sự quan tâm thỏa đáng hơn trong việc đầu tư, hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật và chăm lo phát triển, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ. Mạng lưới các trường chuyên nghiệp đào tạo về văn học, nghệ thuật tiếp tục có những tìm tòi, đổi mới về chương trình, giáo trình giảng dạy, đồng thời không ngừng nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật như trên, sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay còn những hạn chế, bất cập đã tồn tại trong một thời gian dài từ trước đến nay, nhưng qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW vẫn chưa được khắc phục hiệu quả. Điều đáng lưu tâm là, có những biểu hiện mới rất đáng chú ý xem xét, phân tích, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp khắc phục có hiệu quả:

Thứ nhất, dù số lượng tác phẩm ngày càng nhiều, song ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Tiếp tục xuất hiện những tác phẩm có biểu hiện xa lánh những vấn đề lớn lao của đất nước, chạy theo đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Những tác phẩm có biểu hiện cực đoan, chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại, thậm chí xuyên tạc, bóp méo lịch sử... có chiều hướng gia tăng.

Thứ hai, hoạt động lý luận, phê bình văn nghệ chậm phát triển, thiếu tính học thuật, tính chiến đấu, ít tác dụng thúc đẩy sáng tác, không đủ sức tuyên truyền, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng và định hướng tư tưởng, thẩm mỹ cho công chúng. Đáng chú ý là lý luận văn học, nghệ thuật mác-xít chưa được nghiên cứu tương xứng với vai trò và giá trị đích thực của nó, chưa có kế hoạch nhìn lại, đánh giá thỏa đáng những thành công và những khiếm khuyết để có sự kế thừa và phát triển đúng đắn trong giai đoạn mới. Khá nhiều vấn đề lý luận văn nghệ còn bị bỏ ngỏ, dừng lại giữa chừng, không được lý giải, minh chứng xác đáng, khoa học.

Thứ ba, tình trạng già hóa đội ngũ trong các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành ở trung ương và các hội văn học, nghệ thuật địa phương, trong cả lực lượng sáng tác, lý luận, phê bình, biểu diễn và quản lý là dấu hiệu tạo ra nguy cơ thiếu sức sống, thiếu tính năng động trong các hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật. Một bộ phận văn nghệ sĩ lúng túng trước những biến đổi, biến động nhanh chóng, phức tạp của đời sống, dẫn tới suy giảm nhiệt tình, lý tưởng sáng tạo hướng tới những vấn đề trọng tâm của dân tộc, thời đại. Đáng chú ý, một bộ phận văn nghệ sĩ có tư tưởng cực đoan tiếp tục lợi dụng việc “phản biện xã hội” để tuyên truyền phản bác, xuyên tạc đường lối lãnh đạo văn học, nghệ thuật của Đảng ta; qua đó lôi kéo, tổ chức các hoạt động đối lập. Bên cạnh đó, nhiệm vụ thể chế hóa Nghị quyết thành các cơ chế, chính sách chưa thực sự hiệu quả khiến cho các quan điểm chỉ đạo và giải pháp thực hiện chưa được cụ thể hóa, phát huy sức ảnh hưởng trong đời sống văn nghệ.

Hiện nay, Đảng ta đang tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X. Những nhóm giải pháp căn bản nêu trong Nghị quyết đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề đặt ra là sau khi tổng kết, việc thể chế hóa, triển khai thực hiện Nghị quyết cần phải được đẩy mạnh hơn nữa để tạo động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện các lĩnh vực trọng yếu trong đời sống văn học, nghệ thuật. Trong bối cảnh đó, những vấn đề nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được đặt ra và nghiên cứu căn cơ hơn nữa, rút ra những bài học trong tư duy lý luận và thực tiễn phát triển văn nghệ. Đây cũng chính là những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trong công việc đổi mới, phát triển nền văn học, nghệ thuật nước ta trong thời kỳ mới./.

-----------------------------------------------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 42, tr. 137
(2) C. Mác: Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, trích theo Terry Eagleton, Chủ nghĩa Mác và phê bình văn học, Lê Nguyên Long dịch, Nxb. Tri thức, 2009, Hà Nội, tr. 27 - 28
(3) Terry Eagleton: Chủ nghĩa Mác và phê bình văn học, Sđd, tr. 36
(4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 710 - 711
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 23
(6), (7) Terry Eagleton: Chủ nghĩa Mác và phê bình văn học, Sđd, tr. 84, 85
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 246
(9) Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1981, tr. 136
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 246
(11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 504, 392
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 246
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 206
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 514

Nguyễn Hồng VinhPGS, TS, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương

Video