Thứ Ba, 13/11/2018
“Thế chân vạc” Mỹ - Trung - Nga
4/11/2014 23:47' Gửi bài này In bài này

“Thế chân vạc” này có lịch sử hình thành từ khá lâu, nhưng đến đầu thế kỷ XXI, tính chất của “thế chân vạc” ngày càng thể hiện rõ hơn; các “chân” của “thế chân vạc” đều có sự vận động, biến đổi trong vị thế và khung cảnh mới. Mỗi cường quốc được ví như một “chân vạc” cạnh tranh với nhau trong sự so sánh với các cường quốc khác, cùng tác động và ảnh hưởng đến đời sống của các khu vực và toàn thế giới. Sự vận động, lên xuống, sự vững chắc hay bấp bênh của “thế chân vạc” này đều có ảnh hưởng đến các nước, các khu vực và cục diện trên thế giới.

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ - Trung - Nga vừa là đối tượng, vừa là đồng minh của nhau; tuy nhiên mặt đối tượng là chủ yếu, thể hiện rõ hơn trong quan hệ Nga - Mỹ. Trong quan hệ Trung - Nga, sự tranh chấp ảnh hưởng và biên giới khiến tính chất “bạn” giữa hai quốc gia này mờ đi. Mỹ đối trọng với cả Nga và Trung Quốc, nhưng tại thời điểm này chủ yếu là với Nga. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, ba cường quốc Mỹ - Trung Quốc - Liên Xô từng tạo nên “thế chân vạc”, nhưng tính chất của “thế” này chưa thực sự rõ ràng với tư cách mỗi bên là một “chân” đối trọng.

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Mỹ chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong khoảng thời gian ngắn vào những thập niên cuối thế kỷ XX. Bước vào thế kỷ XXI, Trung Quốc và Nga đều dần tái phục hồi vai trò chủ động của mình trong nhiều diễn biến và công việc quốc tế. Tương quan lực lượng tuy có thay đổi so với trước, nhưng cả ba cường quốc đều quen với các tính toán chiến lược nhằm bảo đảm lợi ích của mình và kiềm chế ảnh hưởng của đối phương.

Thuật ngữ “thế chân vạc” hiện nay chỉ sự tái định vị vị trí quyền lực của Mỹ - Nga - Trung trong những cuộc đọ sức, cạnh tranh tay ba mới, nhằm theo đuổi những mục tiêu, lợi ích quốc gia thực tế của mỗi bên. Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, ba cường quốc này đã tạo thành “thế chân vạc” khá rõ thể hiện ở việc duy trì, phát triển và mở rộng quyền lực quốc gia, lợi ích dân tộc trong quan hệ khối, khu vực và toàn cầu mà mỗi “chân” của “thế chân vạc” đang theo đuổi. Nó được định vị bởi sức mạnh kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự, cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, cũng như vị thế quốc tế và vai trò của từng nước trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Thực chất “thế chân vạc” là sự cạnh tranh quyết liệt giữa ba cường quốc mà nhiều chuyên gia gọi là “thân thiện bề mặt, đấu đá bên trong”. Mỗi bên đều có quan hệ với nhau, kiềm chế lẫn nhau, hợp tác với một bên để kiềm chế bên khác, tận dụng, lợi dụng lẫn nhau để bảo đảm quyền lợi quốc gia và lợi ích dân tộc, cũng như vị thế của từng bên. Đặc điểm và tính chất này là khá nhất quán, nhưng luôn vận động, có sự chuyển hóa, tùy thuộc vào tình hình, cũng như lợi ích và so sánh lực lượng cụ thể của các bên trong những bối cảnh cụ thể. Việc hình thành “thế 2 chống 1” xảy ra khá thường xuyên theo quyền lợi của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định, thậm chí trong từng công việc cụ thể. Thời gian gần đây, “thế 2 chống 1” có vẻ như trở lại như thời kỳ Chiến tranh lạnh. Trước đây, Nga và Trung Quốc từng “bắt tay nhau” để chống Mỹ, nay lại tạo nên “thế 2 chống 1” trong bối cảnh, tình hình mới. Cuộc khủng hoảng tại U-crai-na và tình hình Biển Đông, biển Hoa Đông buộc Mỹ cùng lúc phải đối phó với hai mặt trận Âu - Á, nên phải tính toán chiến lược với cả hai đối thủ còn lại.

Theo nhiều nhà phân tích, hiện đang diễn ra “cuộc chiến” tranh hùng, cạnh tranh quyết liệt giữa “Rồng Trung Quốc, Đại bàng Mỹ và Gấu Nga”, trong đó mỗi bên có lợi ích riêng và sức mạnh quân sự hùng hậu của mình.

Mỹ vẫn duy trì vai trò siêu cường và ảnh hưởng lớn trong quan hệ quốc tế, tuy thế và lực có suy giảm nhất định

Sau Chiến tranh lạnh, Mỹ thực hiện nhiều biện pháp để củng cố vị thế bá chủ, lãnh đạo thế giới của mình. Những chính sách, chiến lược chính trị, kinh tế, thương mại, quân sự, an ninh được Mỹ thực thi ráo riết trong tổng thể chiến lược đó. Mỹ thực hiện mở rộng tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) sang phía Đông nhằm đẩy Nga thành “quốc gia loại hai”, thậm chí loại ba; tiến hành chiến tranh không kích Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003; thực hiện chuyển Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) thành Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhằm đưa cả nền kinh tế thế giới vào “sân chơi” mới; triển khai chiến lược “can dự và mở rộng”, chiến lược “xoay trục/tái cân bằng” ở châu Á - Thái Bình Dương,...

Năm 2010, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma công bố Chiến lược an ninh quốc gia, trong đó khẳng định: “Những gì xảy ra trong biên giới nước Mỹ sẽ quyết định sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ ở ngoài biên giới”(1). Mỹ thực hiện chính sách “xoay trục/tái cân bằng” sang châu Á - Thái Bình Dương; không chỉ bố trí lại lực lượng an ninh ở khu vực, mà còn liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế, thương mại, trong đó có các cuộc đàm phán thỏa thuận Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP). Chính sách “xoay trục/tái cân bằng” không có nghĩa là Mỹ không coi trọng Trung Đông và châu Âu trên “bàn cờ” lớn, mà là để bảo đảm vai trò lãnh đạo lâu dài và chắc chắn của Mỹ trên thế giới. Mỹ phải kiểm soát được toàn bộ đại lục Âu - Á, nơi có đối thủ tiềm năng là Nga và Trung Quốc. Theo nhà nghiên cứu kinh tế học An-đrê Xa-phia (Bỉ), Mỹ và EU cộng lại có thể đưa ra 80% luật lệ thương mại toàn cầu trong thế kỷ XXI (2). Mỹ can dự ngày càng sâu vào Trung Đông, Bắc Phi, U-crai-na...; cam kết bảo vệ đồng minh châu Á trong tranh chấp biển, đảo; tăng cường quan hệ với châu Mỹ; mở rộng quan hệ đối thoại, đối tác quân sự với các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ nhiều mặt với các nước Đông Nam Á.

Trung Quốc ngày càng nổi lên là một “chân” hùng mạnh và khó lường

Từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã nhìn thấy rõ thời cơ để phát triển. Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2002) xác định trong vòng 20 năm tiếp theo là “đại thời cơ” để phát triển. Đến Đại hội XVIII năm 2012, một lần nữa Trung Quốc nêu rõ: Trung Quốc vẫn ở vào thời kỳ “cơ hội chiến lược quan trọng”, có nhiều không gian để phát triển. Trung Quốc đã nhanh chóng nhảy vọt thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và có thể vượt Mỹ về quy mô nền kinh tế trong vài chục năm tới. Với sức mạnh đó, Trung Quốc không muốn duy trì trật tự hiện thời. Nhiều sáng kiến để liên kết trong khối BRICS và Hợp tác Thượng Hải được xem như nỗ lực nhằm cạnh tranh với các định chế quốc tế được hình thành bởi phương Tây và Mỹ. Mục tiêu của Trung Quốc là nhằm thực hiện “giấc mơ Trung Hoa”, trở thành một trong hai hay ba “tâm điểm” quan trọng nhất của thế giới. Trung Quốc tập trung khai thác “sức mạnh mềm” về lịch sử, văn hóa, kinh tế, tranh thủ thời cơ trở thành cường quốc thế giới, không chấp nhận luật chơi do các nước khác áp đặt (3) kể cả luật pháp quốc tế; mở rộng ảnh hưởng chính trị, đặc biệt là ở Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình Dương.

Nga phục hồi khá nhanh, có ảnh hưởng ngày càng lớn trong đời sống quốc tế, tạo nên một “chân” có nhiều tiềm năng và sức mạnh

Nga là cường quốc có nhiều ưu thế về tài nguyên thiên nhiên, công nghiệp quốc phòng. Từng là một cường quốc về quân sự, đặc biệt là về vũ khí chiến lược, cùng với sự phục hồi, phát triển kinh tế khá nhanh trong những năm gần đây, lại có nhiều lợi thế, Nga muốn khẳng định vị thế và ảnh hưởng của mình trong đời sống quốc tế; tạo ra sự cân đối (tương đối) giữa các nước lớn nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc an ninh để phát triển kinh tế; khẳng định chính sách “hướng Đông” trong thế kỷ XXI, giữ vững vị trí cường quốc trên thế giới, tham dự sâu hơn vào các công việc quốc tế. Nga là nguồn cung cấp dầu hoả và khí đốt hàng đầu đến Trung Quốc, châu Âu và cả Nhật Bản, Hàn Quốc, và, không ngần ngại sử dụng khí đốt như là “con bài chiến lược” khi cần thiết. Nga hiện đang đẩy mạnh thiết lập củng cố và tăng cường các liên minh; xác định các nước SNG có “ý nghĩa sống còn” với các lợi ích của Nga, chú trọng đến Ca-dắc-xtan, Bê-la-rút, U-crai-na...; tăng cường cải tổ tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể (ODKB), được coi là “đối trọng với NATO”. Nga đẩy mạnh hợp tác, đối thoại quân sự với các nước, chú trọng các nước có quan hệ truyền thống. Tăng cường hợp tác đối tác chiến lược với Trung Quốc; thúc đẩy và làm sâu sắc quan hệ với Ấn Độ; tiếp tục quan hệ chặt chẽ với Trung Đông; xác định Việt Nam là đối tác “đặc biệt quan trọng” (4).

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều câu hỏi được đặt ra là: Trật tự thế giới mới sẽ là một trật tự thế giới nhất cực, lưỡng cực hay tam cực hay một trật tự thế giới đa cực, thậm chí vô cực? Ai mới thực là “kỳ phùng địch thủ toàn cầu” của Mỹ trong tương lai? Mục đích chiến lược của Mỹ là gì khi tiếp tục chính sách “thân thiện, nuôi dưỡng” Trung Quốc? Các nước đang phát triển, giờ đây có phải như những “quân cờ” được các cường quốc “sử dụng” để bao vây lẫn nhau?

Sự vận động của các quan hệ quốc tế cũng như chính sách đối ngoại, bảo vệ độc lập chủ quyền của các quốc gia dân tộc trên thế giới hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào sự vận động, tác động của “thế chân vạc” giữa ba cường quốc này. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn chính sách đối ngoại của các nước đang phát triển trở nên rất khó khăn bởi sự phức tạp và tính chất nước lớn rất khó lường của các “chân” trong “thế chân vạc” hiện nay. Lựa chọn đứng ở đâu trong cuộc cạnh tranh tay ba Mỹ - Nga - Trung là vấn đề thực sự không dễ dàng đối với mỗi quốc gia./.

----------------------------------------

(1) Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ (NSS) năm 2010, tr. 2

(2) Tạp chí Cộng sản số 860 (6-2014), tr. 109

(3) Tạp chí Khoa học Quân sự, số 9/2011, tr. 104

(4) Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, số 27 Quý III/2014, tr. 40-44

Nguyễn Mạnh HưởngPGS, TS. Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

Video