Thứ Sáu, 19/10/2018
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1973 - năm bản lề của Đại thắng Mùa Xuân năm 1975
11/10/2018 22:5' Gửi bài này In bài này
Ngày 27-01-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết - Nguồn: baonghean.vn

Vài nét về bối cảnh lịch sử năm 1972

Bối cảnh quốc tế:

Năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp, biểu hiện trên một số sự kiện nổi bật:

Một là, triển khai học thuyết Ních-xơn về châu Á, chính quyền Mỹ chủ trương và quyết tâm phá hoại hậu phương kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn và Cố vấn an ninh quốc gia H. Kít-xinh-giơ, cộng sự đắc lực của Tổng thống, đã chủ động và ráo riết tiến hành các bước đi nhằm thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Trung Quốc với ba mục tiêu chủ yếu: thiết lập mối quan hệ mới với một nước cộng sản lớn; chia rẽ, làm trầm trọng hơn mâu thuẫn giữa Trung Quốc với Liên Xô để làm suy yếu phong trào cộng sản quốc tế và hệ thống xã hội chủ nghĩa; chia rẽ quan hệ Trung Quốc - Việt Nam, ngăn chặn sự giúp đỡ, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam, làm suy yếu cuộc kháng chiến của Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ trong đàm phán.

Tiếp đó, đến tháng 5-1972, Tổng thống R. Ních-xơn có chuyến đi hòa hoãn thăm Liên Xô cũng với nhiều toan tính.

Như vậy, trong vòng 4 tháng, chính quyền Mỹ đã thực hiện hai chuyến thăm lịch sử, bước đầu đạt được sự thoả hiệp, hòa hoãn với Trung Quốc, Liên Xô trên nhiều vấn đề quốc tế lớn. Kết quả của hai chuyến thăm này có tác động đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, làm cho cuộc chiến đấu của Việt Nam khó khăn hơn.

Hai là, mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục gay gắt. Là hai nước viện trợ lớn nhất cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên mâu thuẫn giữa hai nước này phần nào ảnh hưởng đến đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Mỹ chủ trương can thiệp, chia rẽ mối quan hệ giữa Trung Quốc - Liên Xô - Việt Nam.

Ba là, trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn tái đắc cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Điều này có nghĩa chính sách đối ngoại của Mỹ và chính sách đối với cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ không có thay đổi gì lớn, Mỹ tiếp tục rút quân, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Tình hình trong nước Việt Nam

Tại miền Nam, năm 1972 là năm đánh dấu chiến sự trở nên quyết liệt hơn so với các năm 1969, 1970, 1971. Sau một thời gian khôi phục thế trận, lực lượng, hồi phục cơ sở, kể từ cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên ba hướng chiến trường quan trọng là Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế (Trị Thiên), miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, trong đó Trị Thiên là hướng chủ yếu. Sau cuộc tiến công mở màn ngày 30-3-1972 tại Trị Thiên, ngày 01-5-1972, quân giải phóng đã đánh chiếm thị xã Quảng Trị. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên ở miền Nam được giải phóng. Trên hướng miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang giải phóng cũng đồng loạt mở các cuộc tiến công vào các mục tiêu của quân Mỹ và quân đội chính quyền Sài Gòn, phối hợp với chiến trường chính Trị Thiên.

Trước cuộc tiến công đồng loạt, mạnh mẽ của quân giải phóng miền Nam, chính quyền của Tổng thống Ních-xơn đã phải “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh, tăng cường đưa vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh vào miền Nam để cùng với quân đội Sài Gòn tìm cách đối phó; đồng thời mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (06-4-1972). Đây là cuộc chiến tranh phá hoại có quy mô lớn, ác liệt và tàn bạo của đế quốc Mỹ hòng phá hủy hậu phương miền Bắc, bóp nghẹt cách mạng miền Nam.

Trận chiến đấu ác liệt giành và giữ thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) với hơn 35.000 tấn bom đạn được ném xuống, bắn phá, với hàng nghìn người chết và bị thương, cho thấy quyết tâm của cả hai bên muốn giành một thắng lợi quân sự để tạo thế cho cuộc đàm phán ở Pa-ri đang dẫm chân tại chỗ. Phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa còn muốn chứng tỏ rằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang tiến triển thuận lợi.

Vào đầu tháng 10-1972, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động đưa ra bản Dự thảo Hiệp định, trong đó có những sửa đổi và nhân nhượng về chính trị quan trọng (như thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có ba lực lượng chính trị công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, về việc thành lập chính quyền hòa hợp dân tộc ba thành phần; về vấn đề tổng tuyển cử tự do, dân chủ, về viện trợ quân sự, về trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, về Ủy ban quốc tế...). Đề nghị của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri là bước đột phá mang tính bước ngoặt sau hơn 4 năm rưỡi đàm phán, được phía Mỹ tiếp nhận và thừa nhận thái độ thiện chí muốn giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh. Hai bên đã nhanh chóng đàm phán về các vấn đề còn chưa thống nhất và quyết định sẽ ký Hiệp định vào cuối tháng 10-1972.

Tuy nhiên, phía Mỹ đã không thực hiện cam kết, đưa ra các đòi hỏi sửa chữa, bổ sung vô lý, nhất là sau khi R. Ních-xơn tái đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đầu tháng 11-1972. Cuộc đàm phán rơi vào bế tắc. Ngày 18-12-1972, Tổng thống R. Ních-xơn quyết định tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác ở miền Bắc nhằm buộc phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải chấp nhận các đề nghị của Mỹ trước khi ký Hiệp định, đồng thời khẳng định với phía Việt Nam Cộng hoà sự cam kết ủng hộ của Mỹ. Đây là cuộc ném bom tàn bạo, mang tính hủy diệt của Mỹ đối với Thủ đô Hà Nội.

Trước sự đánh trả kiên cường, quyết tâm chiến đấu của quân dân Hà Nội, Hải Phòng, lực lượng không quân Mỹ bị tổn thất nặng nề, chính quyền Ních-xơn buộc phải ngừng ném bom, đề nghị họp lại Hội nghị Pa-ri để tiến tới ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh.

Năm 1973 - năm đầu tiên sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam

Ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

Ngày 08-01-1973, hai đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Cố vấn Lê Đức Thọ dẫn đầu và đoàn Mỹ, do Cố vấn an ninh quốc gia Kít-xinh-giơ dẫn đầu, đã nhóm họp trở lại tại Pa-ri (Pháp). Mở đầu cuộc họp, phái đoàn Việt Nam mạnh mẽ phê phán, lên án việc Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng nhằm gây sức ép tối đa với Việt Nam. Do không đạt mục đích sử dụng bom đạn để buộc đối phương khuất phục, trái lại còn bị tổn thất nặng nề, nên Mỹ đưa ra các đòi hỏi, đề nghị sửa đổi nội dung hiệp định nhưng hầu hết các đòi hỏi, đề nghị đó đều không được chấp thuận. Chỉ có một vấn đề lớn đối với phía Mỹ đó là vấn đề qua lại ở Khu phi quân sự (DMZ) vốn được Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam và Đông Dương quy định. Việt Nam chấp nhận tinh thần cơ bản trong đề nghị của phía Mỹ là bổ sung cụm từ qua lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Hai bên thỏa thuận ghi vào chương trình nghị sự đàm phán: “Trong các vấn đề thương lượng có vấn đề thể thức qua lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời”.

Trên thực tế, vấn đề này đối với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không lớn vì quân giải phóng miền Nam đã làm chủ phía Nam giới tuyến quân sự tạm thời, đã giải phóng phần lớn tỉnh Quảng Trị. Vì thế, nếu hiệp định được ký kết trên nguyên tắc ngừng bắn tại chỗ thì quân giải phóng vẫn có quyền ở lại phía Nam khu phi quân sự. Việc Mỹ đòi hỏi phải đưa vấn đề “qua lại dân sự” vào nội dung hiệp định để ngăn chặn các lực lượng vũ trang từ miền Bắc đi qua Khu phi quân sự vào miền Nam, trong khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn không còn kiểm soát được khu vực này, là một hành động vớt vát thể diện, không thực tế, chỉ mang tính lý thuyết.

Ngày 13-01-1973, hai đoàn Việt Nam và Mỹ họp phiên cuối cùng, thỏa thuận: Mỹ sẽ chấm dứt ném bom và thả mìn phong tỏa miền Bắc vào ngày 15-01-1973; hai bên ký tắt Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 23-01-1973. Ngày 27-01-1973, ngừng bắn có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Như vậy, Hiệp định Pa-ri về cơ bản đã hoàn tất về nội dung và chương trình nghị sự cho việc ký kết và thi hành sau khi Hiệp định có hiệu lực.

Ngày 27-01-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết.

Điều 1 của Hiệp định ghi rõ: Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Điều 2 ghi: Hoa Kỳ và các nước đồng minh phải rút hết cố vấn, nhân viên quân sự và các trang thiết bị quân sự ra khỏi miền Nam trong thời hạn 60 ngày kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Trong khi đó, quân đội miền Bắc không phải rút, vẫn ở nguyên tại chỗ sau khi ngừng bắn. Điều này mở ra khả năng mới cho cách mạng miền Nam sau khi đã đánh cho quân Mỹ rút, sẽ tiến lên đánh cho quân đội Sài Gòn phải đổ sụp, tiến tới giải phóng miền Nam. Hiệp định Pa-ri công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị. Miền Nam sẽ thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau, có nhiệm vụ đôn đốc hai bên ở miền Nam Việt Nam thi hành hiệp định, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Hiệp định cũng xác nhận Mỹ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở miền Bắc...

Như vậy, việc ký Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Việc quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ phải rút hết và toàn bộ ra khỏi miền Nam Việt Nam đã mở ra một cơ hội lớn để các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam tiến lên đánh đổ chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa. So sánh lực lượng ngày càng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Một thời cơ chiến lược mới đã mở ra từ sau khi ký Hiệp định Pa-ri.

Mỹ vi phạm Hiệp định, quân đội Sài Gòn thực hiện chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”

Ngày 3-4-1973, Tổng thống Mỹ đã có cuộc họp với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu tại San Clê-men-tê, Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ), cam kết làm tất cả những gì có thể để bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Được sự cam kết mạnh mẽ của chính quyền Mỹ, với sự chuẩn bị từ trước, chính quyền Sài Gòn đã tổ chức một cách bài bản kế hoạch vi phạm, phá hoại Hiệp định Pa-ri. Ngay sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực ngày 28-1-1973, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã công khai tuyên bố lập trường 5 không của chính quyền Sài Gòn, đó là: Không liên hiệp; không thương lượng với đối phương; không để xảy ra hoạt động của cộng sản trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát; không để lọt vào tay đối phương bất cứ đất đai, tiền đồn nào do quân đội Sài Gòn chiếm giữ, không có hòa bình với cộng sản.

Chính quyền, quân đội Sài Gòn ráo riết xúc tiến thực hiện “Kế hoạch chiến tranh 3 năm (1973 - 1975) nhằm lấn chiếm vùng giải phóng, tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng, từng bước xóa bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị ở miền Nam. Để xóa thế da báo trên chiến trường, quân đội Sài Gòn liên tiếp tiến hành các cuộc hành quân, lấn chiếm “tràn ngập lãnh thổ”.

Về phía Mỹ, mặc dù đã triển khai cam kết đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh; chịu trách nhiệm về việc cung cấp phương tiện, kỹ thuật để rà phá, quét sạch các loại bom mìn,... nhưng Mỹ không thực tâm thi hành Hiệp định Pa-ri. Đầu tháng 4-1973, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đơn phương đình chỉ các cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp kinh tế Việt - Mỹ, đình chỉ các cuộc họp về hiệp thương giữa hai miền, cản trở các hoạt động của các đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong ban Liên hợp quân sự bốn bên, kéo dài thời gian rà phá mìn, thủy lôi... Ngày 5-4-1973, Thượng nghị viện Mỹ bỏ phiếu không tán thành viện trợ cho miền Bắc Việt Nam dù là dưới hình thức đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh.

Không những thế, chính quyền Mỹ tiếp tục hoạt động ngoại giao nhằm chia rẽ hơn nữa mối quan hệ Liên Xô, Trung Quốc cũng như mối quan hệ của các nước này với Việt Nam.

Các lực lượng cách mạng ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam sau Hiệp định Pa-ri

Hiệp định Pa-ri được ký kết đã mang đến những thuận lợi lớn cho cách mạng Việt Nam. Chủ trương chiến lược vừa đánh, vừa đàm, đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao đã đưa đến kết quả. Quân Mỹ bị tổn thất nặng nề, buộc phải rút hết về nước. Quân đội Sài Gòn tuy đông, trước đây được Mỹ cung cấp vũ khí, trang bị, đạn dược dồi dào, quen tác chiến dựa vào Mỹ, nay mất chỗ dựa cơ bản, viện trợ quân sự bị hạn chế nhiều, buộc phải “tác chiến theo kiểu con nhà nghèo”, nên gặp nhiều khó khăn, sức mạnh bị suy giảm. So sánh thế và lực trên chiến trường ngày càng có lợi cho các lực lượng vũ trang cách mạng.

Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn và phải khắc phục hậu quả nặng nề do sự ném bom, tàn phá của kẻ thù, nhưng cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam đang đứng trước thời cơ lớn. Quân và dân Việt Nam vừa kiên quyết đấu tranh đòi đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri, chống lấn chiếm, đòi đối phương trao trả tù chính trị, tù binh, hiệp thương giữa hai miền, thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc chuẩn bị tổng tuyển cử, vừa từng bước chuẩn bị thế và lực cho giai đoạn cách mạng mới.

Ngày 24-5-1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp mở rộng bàn về cách mạng miền Nam, nhấn mạnh chủ trương: trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị pháp lý. Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại hành động vi phạm của địch(1).

Quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo các chiến trường: Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần, không những phản công ở địa bàn địch tiến công ta, mà còn hiệp đồng với các lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở địa bàn khác, nơi ta có chủ lực mạnh(2).

Từ ngày 19-6 đến ngày 6-7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21, đề ra một loạt vấn đề cần giải đáp và giải quyết: liệu chính quyền Sài Gòn có tiếp tục thi hành Hiệp định Pa-ri hay không? Có thể thực hiện thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình hay không? Liệu Mỹ có đưa quân trở lại miền Nam hay không? Nếu Mỹ can thiệp thì mức độ đến đâu khi ta quyết tâm giải phóng miền Nam bằng bạo lực cách mạng?...

Hội nghị nhận định thực tế tình hình lúc này: miền Nam chưa có ngừng bắn, hòa bình chưa thực sự được lập lại; chính quyền, quân đội Sài Gòn tiếp tục gây chiến, lấn chiếm vùng giải phóng và vùng tranh chấp nhằm xóa thế da báo. Hiệp định Pari đã và đang bị kẻ thù vi phạm hết sức nghiêm trọng... Trên cơ sở nhận định nêu trên, Hội nghị khẳng định: Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; nhiệm vụ của miền Bắc là ra sức chi viện chiến trường, phục hồi, phát triển kinh tế, làm cho miền Bắc luôn là chỗ dựa vững chắc của cách mạng miền Nam.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ 21, quân dân các chiến trường miền Nam chủ động tiến công, phản công địch, bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ đứng chân, đồng thời xây dựng lực lượng, tổ chức huấn luyện cán bộ và bộ đội bảo đảm hậu cần, xây dựng hậu phương, giành được kết quả quan trọng.

Bên cạnh các hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị đòi vãn hồi hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari, đòi được tự do đi lại làm ăn... của các tầng lớp nhân dân miền Nam cũng diễn ra sôi nổi, rộng khắp, góp phần làm cho tình hình nội bộ chính trị, xã hội của Việt Nam Cộng hòa thêm rối ren, mâu thuẫn.

Ở miền Bắc, mặc dù đế quốc Mỹ đã chấm dứt ném bom bắn phá, phong tỏa nhưng tình hình còn rất khó khăn do hậu quả của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của địch. Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, song miền Bắc vẫn ra sức lao động, sản xuất, đạt được những kết quả nhất định, góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Như vậy, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết liệt, chuyến thăm vùng giải phóng Quảng Trị vào tháng 9-1973 của Thủ tướng Phi-đen Ca-xtơ-rô có một ý nghĩa biểu tượng rất lớn, thể hiện sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đang đi đến gần ngày toàn thắng./.

-------------------------------------------------------------

(1) Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 67
(2) Bộ Quốc phòng, Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, t.8, tr. 49, 50

Nguyễn Mạnh HàGS, TS, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Video